Giải pháp bù đắp bội chi ngân sách nhà nước

Bội chi ngân sách nhà nước

Ngày gửi: 15/01/2020 lúc 23:02:24

Mã số câu hỏi: HTPL39836

Câu hỏi:

Em đang tìm hiểu thông tin về bội chi ngân sách nhà nước và các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng bội chi ngân sách nhà nước.Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam có thể giúp em không ạ? Xin cảm ơn!

Câu trả lời tham khảo:

Hệ thống pháp luật Việt Nam [hethongphapluat.com] xin chân thành cảm ơn bạn đã tin tưởng gửi câu hỏi đến chúng tôi. Sau khi nghiên cứu, đối chiếu với quy định của pháp luật hiện hành, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời có tính chất tham khảo như sau:

1. Bội chi ngân sách nhà nước

Điều 4 Nghị định số 60/2003/NĐ-CP:

“ Bội chi ngân sách nhà nước là bội chi ngân sách Trung ương được xác định bằng chênh lệch thiếu giữa tổng số chi ngân sách trung ương và tổng số thu ngân sách trung ương của năm ngân sách. Ngân sách địa phương được cân đối với tổng số chi không vượt quá tổng số thu theo quy định tại Khoản 3 Điều 8 của Luật Ngân sách nhà nước”.

Nguồn bù đắp bội chi bao gồm vay trong nước, ngòai nước [chậm nhưng không gây lạm phát], không chấp nhận phát hành tiền. Chỉ vay cho đầu tư phát triển nhằm đảm bảo khả năng trả nợ trong tương lai. Không thừa nhận việc bội chi tại địa phương và buộc giải quyết bằng ngân sách trung ương.

Việc giải quyết bội chi ngân sách nhà nước cũng theo quy định của điều này, bao gồm:

“Các khoản vay trong nước từ phát hành trái phiếu CP và các nguồn tài chính khác.

Các khoản CP vay ngoài nước được đưa vào cân đối ngân sách.”

2. Các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng bội chi ngân sách nhà nước

Tăng thu giảm chi:

+ Tăng thu: Tăng thu ngân sách nhà nước bằng biện pháp tích cực khai thác mọi nguồn thu, thay đổi và áp dụng các sắc thuế mới, nâng cao hiệu quả thu, đặc biệt là thuế có thể sẽ bù đắp sự thâm hụt NSNN và giảm bội chi NSNN. Tuy nhiên, đây không phải là giải pháp cơ bản để xử lý bội chi NSNN, vì tăng thuế không hợp lý sẽ dẫn đến làm giá cả hàng hóa tăng gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống nhân dân, triệt tiêu động lực của các doanh nghiệp trong các ngành sản xuất kinh doanh và làm mất đi khả năng cạnh tranh của nền kinh tế đối với các nước trong khu vực và trên thế giới.

+ Giảm chi: Xét cơ cấu chi ngân sách nhà nước gồm 3 phần chủ yếu: chi tích lũy cho đầu tư phát triển, chicho tiêu dùng kinh tế – văn hóa – xã hội và chi trả nợ trong và ngoài nước. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công và chi thường xuyên từ NSNN. Triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công chỉ đầu tư vào những dự án mang tính chủ đạo, hiệu quả nhằm tạo ra những đột phá cho sự phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt những dự án chưa hoặc không hiệu quả thì phải cắt giảm, thậm chí không đầu tư. Mặt khác, bên cạnh việc triệt để tiết kiệm các khoản đầu tư công, những khoản chi thường xuyên của các cơ quan nhà nước cũng phải cắt giảm nếu những khoản chi này không hiệu quả và chưa thực sự cầnthiết.

Giải pháp để có nguồn bù đắp thâm hụt ngân sách nhà nước hợp lý là kết hợp tăngthu, giảm chi và các nguồn vay nợ trong và ngoài nước. Về lâu dài muốn cải thiện tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước thì phải đảm bảo tính hiệu quả hợp lý của các khoản thu.

Viện trợ, Vay nợ nước ngoài:

Có thể bù đắp đượccác khoản bội chi mà lại khônggây rasức ép lạm phát cho nền kinh tế. Là nguồn vốn quan trọng bổ sung cho nguồn vốn thiếu hụt trong nước, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Tuy nhiên cũngkhiến chi gánh nặng nợ nần, nghĩa vụ trả nợ tăng lên, giảm khả năng chi tiêu cho chính phủ đồng thời khiến cho nền kinh tế trở nên bị phụ thuộc vào nước ngoài. Ngoài racó những khoản vay còn đi kèm các điều khoản về chính trị, kinh tế, quân sự khiến cho các nước đi vay phụ thuộc nhiều.

Vay ngân hàng:

Nhu cầu tiền để bù dắp ngân sách trong nước được đáp ứng 1 cách nhanh chóng, không phải trả lãi, cũng không phải ghánh thêm các gánh nặng nợ nần. Tuy nhiên việc in và phát hành thêm tiền sẽ khiến cho cung tiền vượt cầu tiền, làm cho việc làm phát trở nên không kiểm soát. Biện pháp này rất ít khi được sử dụng.Từ 1992 nước ta đã chấm dứt hoàn toàn việc in tiền để bù đắp bội chi NSNN.

Tăng cường vai trò quản lý nhà nước nhằm bình ổn giá cả, ổn định chính sách vĩ mô và nâng cao hiệu quả hoạt động trong các khâu của nền kinh tế. Nhà nước sử dụng hệ thống chính sách và công cụ quản lý vĩ mô để điều khiển, tác động vào đời sống kinh tế-xã hội, nhằm giải quyết các mối quan hệ trong nền kinh tế cũng như đời sống xã hội, nhất là mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, giữa tăng trưởng kinh tế với giữ gìn môi trường…

Trên đây là câu trả lời của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam liên quan đến yêu cầu câu hỏi của bạn. Hy vọng câu trả lời của chúng tôi sẽ hữu ích cho bạn.

Nếu có bất cứ vướng mắc gì về pháp lý mời bạn tiếp tục đặt câu hỏi. Chúng tôi luôn sẵn sàng giải đáp.

Trân trọng cảm ơn.

BBT.Hệ Thống Pháp Luật Việt nam

Lưu ý: Nội dung tư vấn của Hệ Thống Pháp Luật Việt Nam trên đây chỉ mang tính tham khảo. Tùy vào từng thời điểm và đối tượng khác nhau mà nội dung tư vấn trên có thể sẽ không còn phù hợp do sự thay đổi của chính sách hay quy định mới của pháp luật.

Twitter

Chia sẻ

Mục lục bài viết

  • 1. Cơ sở pháp lý:
  • 2. Nội dung phân tích về Quy định về các nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước:
  • Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước
  • Phân loại bội chi ngân sách
  • Các trường hợp bội chi ngân sách nhà nước
  • Bội chi cơ cấu
  • Bội chi chu kỳ

Luật sư tư vấn:

1. Cơ sở pháp lý:

– Luật ngân sách nhà nước năm 2015 có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017.

2. Nội dung phân tích về Quy định về các nguồn bù đắp bội chi ngân sách nhà nước:

Bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh. Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách trung ương. Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương. Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp từ các nguồn vay. Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên.

Khái niệm bội chi ngân sách nhà nước

Bội chi ngân sách nhà nước là [Tổng số] chỉ lớn hơn [tổng số] thu trong năm ngân sách, tình trạng mất cân đối của ngân sách, phản ánh sự thiếu hụt của nền tài chính.

Khoản 1 Điều 4 Luật ngân sách nhà nước 2015quy định:

“Bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh. Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách trung ương. Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương.”

Bội chi ngân sách nhà nước [hay còn còn gọi là Thâm hụt ngân sách] trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng được hiểu là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước [ngân sách chính phủ] lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách. Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách trung ương. Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh không bao gồm chi trả nợ gốc và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương. Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp từ các nguồn vay. Vay bù đắp bội chi ngân sách nhà nước chỉ được sử dụng cho đầu tư phát triển, không sử dụng cho chi thường xuyên.

Bội chỉ ngân sách kéo dài sẽ rối loạn lưu thông tiền tệ và giá cả, dẫn đến lạm phát, ảnh hưởng xấu đến quá trình tái sản xuất toàn bộ nền kinh tế và đời sống của các tầng lớp nhân dân. Chính vì vậy, Luật ngân sách nhà nước năm 2002 của Việt Nam quy định Quốc hội là cơ quan quyết định mức bội chỉ và về nguồn bù đắp. [Tổng số] thu lớn hơn [tổng số] chỉ trong năm ngân sách.

Bội thu ngân sách là biểu hiện tình trạng lành mạnh và ổn định của ngân sách nhà nước, tạo cơ sở để tăng cường dự trữ tài chính của quốc gia.

Căn cứ để xác định tình trạng bội thu ngân sách trong năm ngân sách là dự toán ngân sách nhà nước đã được quyết định. Số chênh lệch lớn hơn giữa tổng số thu so với tổng số chỉ gọi là số kết dư ngân sách nhà nước. Luật ngân sách nhà nước có các quy định cụ thể về sử dụng số kết dư ngân sách nhà nước. Riêng đối với ngân sách của các cấp chính quyền địa phương, số kết dư của ngân sách cấp nào là nguồn thu của ngân sách cấp đó trong năm ngân sách kế tiếp. Trong quá trình chấp hành ngân sách nhà nước, nếu có sự tăng thu và tiết kiệm chỉ so với dự toán được giao thì được sử dụng để giảm hội chỉ, tăng chỉ trả nợ, tăng chỉ đầu tư phát triển, bổ sung quỹ dự trữ tài chính, tăng dự phòng ngân sách... Hàng năm, trong trường hợp có số tăng thu ngân sách trung ương So với ngân sách dự toán từ các khoản thu phân chia giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương, Chính phủ quyết định việc trích một phần theo tỈ lệ không quá 30% của số tăng thu thưởng cho ngân sách địa. phương nhưng không được vượt quá số tăng thu so với mức thực hiện năm trước.

Phân loại bội chi ngân sách

Tại Khoản 1 Điều 4 Nghị định 163/2016/NĐ-CP quy định:

>> Xem thêm: Tín dụng nhà nước là gì ? Đặc điểm, nội dung của tín dụng nhà nước ?

“1. Bội chi ngân sách nhà nước bao gồm bội chi ngân sách trung ương và bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh:

a] Bội chi ngân sách trung ương được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương và tổng thu ngân sách trung ương trong một năm ngân sách;

b] Bội chi ngân sách địa phương cấp tỉnh là tổng hợp bội chi ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương, được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách cấp tỉnh và tổng thu ngân sách cấp tỉnh của từng địa phương trong một năm ngân sách.”

Bội chi ngân sách nhà nước là chi lớn hơn thu trong năm ngân sách, là tình trạng mất cân đối của ngân sách, phản ánh sự thiếu hụt của nền tài chính.

– Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp từ các nguồn vay được quy định cụ thể tại khoản 5 Điều 7:

“5. Bội chi ngân sách địa phương:

a] Chi ngân sách địa phương cấp tỉnh được bội chi; bội chi ngân sách địa phương chỉ được sử dụng để đầu tư các dự án thuộc kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định;

b] Bội chi ngân sách địa phương được bù đắp bằng các nguồn vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính quyền địa phương, vay lại từ nguồn Chính phủ vay về cho vay lại và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;

c] Bội chi ngân sách địa phương được tổng hợp vào bội chi ngân sách nhà nước và do Quốc hội quyết định. Chính phủ quy định cụ thể điều kiện được phép bội chi ngân sách địa phương để bảo đảm phù hợp với khả năng trả nợ của địa phương và tổng mức bội chi chung của ngân sách nhà nước.”

– Bội chi ngân sách trung ương được bù đắp từ các nguồn căn cứ vào quy định ở khoản 4 Điều 7:

“4. Bội chi ngân sách trung ương được bù đắp từ các nguồn sau:

a] Vay trong nước từ phát hành trái phiếu chính phủ, công trái xây dựng Tổ quốc và các khoản vay trong nước khác theo quy định của pháp luật;

b] Vay ngoài nước từ các khoản vay của Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tế và phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế, không bao gồm các khoản vay về cho vay lại.”

Như vậy pháp luật quy định rõ các nguồn dùng để bù đắp bội chi ngân sách của trung ương và địa phương, không có trường hợp thu thêm nhiều thuế để bù đắp bội chi ngân sách như bạn đề cập.

Các trường hợp bội chi ngân sách nhà nước

Tài chính công hiện đại phân loại bội chi ngân sách nhà nước thành hai loại: bội chi cơ cấu và bội chi chu kì.

Bội chi cơ cấu

Bội chi cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục,quốc phòng,…

Ví dụ: Tổng chi NSNN năm 2013 ước tính đạt 986,2 nghìn tỷ đồng, bằng 100,8% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 201,6 nghìn tỷ đồng, bằng 115,1% [riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 196,3 nghìn tỷ đồng, bằng 115,4%]; chi phát triển sự nghiệp kinh tế-xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể [bao gồm cả chi thực hiện cải cách tiền lương] ước tính đạt 679,6 nghìn tỷ đồng, bằng 100,8%; chi trả nợ và viện trợ 105 nghìn tỷ đồng, bằng 100%. [Theo Thời báo Ngân hàng]

Nguyên nhân dẫn đến bội chi cơ cấu chủ yếu là nguyên nhân chủ quan là do quản lý, điều hành ngân sách nhà nước bất hợp lý. Biểu hiện qua những vấn đề như việc khai thác và đánh giá nguồn thu chưa tốt, phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước còn nhiều bất cập, dẫn đến thất thoát và lãng phí nguồn lực tài chính của nhà nước, hay vấn đề phân cấp quản lý ngân sách ngân sách nhà nước chưa khuyến khích địa phương nổ lực trong khai thác nguồn thu và phân bổ chi tiêu hiệu quả.

Những điều đó đã làm nguồn thu vào ngân sách nhà nước bị thất thoát, hoạt động thu không hiệu quả và không đủ cho hoạt động chi của nhà nước. Ngoài ra do nhà nước chủ động sử dụng bội chi ngân sách nhà nước như là một công cụ để thực hiện chính sách đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng tạo sự tăng trưởng cho nền kinh tế, khắc phục tình trạng suy thoái của nền kinh tế.

Bội chi chu kỳ

Bội chi chu kì là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, nghĩa là mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân. Ví dụ: Tỷ lệ bội chi ngân sách Nhà nước năm 2019 ở mức 5,3% GDP, vượt mức 4,8% đã dự toán. Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn về vốn, sản phẩm tồn kho tiêu thụ chậm dẫn đến thua lỗ.

Nguyên nhân dẫn đến bội chi chu kì thường là nguyên nhân khách quan: Do nền kinh tế suy thoái và khủng hoảng, của cải vật chất tạo ra ít, năng suất lao động của xã hội thấp, thất nghiệp gia tăng, làm cho nguồn thu vào ngân sách nhà nước bị giảm sút, nhưng nhu cầu chi tiêu lại gia tăng để giải quyết những vấn đề khó khăn mới về kinh tế- xã hội như: trợ cấp xã hội, các khoản chi để phục hồi nền kinh tế,… đồng thời nhà nước còn chi tiền để phục hồi nền kinh tế. Điều đó dễ dẫn đến tình trạng thu không đủ chi và ngân sách nhà nước bị thâm hụt.

>> Xem thêm: Phân cấp quản lý ngân sách nhà nước là gì ? Quy định về phân cấp quản lý ngân sách nhà nước

Ngược lại, khi kinh tế ở giai đoạn phồn thịnh, thu vào ngân sách nhà nước liên tục tăng lên mà không phải chi các khoản chi bất thường thì ngân sách nhà nước tăng lên và đảm bảo thực hiện tốt những dự toán đã được đề ra. Qua đó, ta thấy suy thoái và khủng hoảng kinh tế là một trong những nguyên nhân gây ra bội chi ngân sách nhà nước. Bên cạnh đó, thiên tai và tình trạng bất ổn về an ninh chính trị của quốc gia, thế giới cũng ảnh hưởng rất lớn đến ngân sách nhà nước, do nhu cầu chi tiêu cho quốc phòng và an ninh trật tự xã hội tăng lên và phải chi nhiều để khắc phục hậu quả thiên tai.

Việc phân biệt hai loại bội chi trên đây có tác dụng quan trọng trong việc đánh giá ảnh hưởng thực sự của chính sách tài chính khi thực hiện chính sách tài chính mở rộng hay thắt chặt sẽ ảnh hưởng đến thâm hụt ngân sách như thế nào giúp cho chính phủ có những biện pháp điều chỉnh chính sách hợp lý trong từng giai đoạn của chu kỳ kinh tế.

Ngoài ra, căn cứ vào yếu tố thời gian, có sự phân chia bội chi ngân sách thành bội chi ngắn hạn và bội chi dài hạn.Dựa trên những nguyên nhân cụ thể mà dẫn đến tình trạng bội chi ngân sách. Tình trạng này được xem như là một điều tất yếu do nước ta đang trong giai đoạn phát triển, cần thiết phải sử dụng nguồn lực của nhà nước cho đầu tư phát triển mà các thành phần kinh tế khác không muốn làm hoặc chưa có khả năng làm được. Từ đó bắt buộc phải tăng vay nợ và chấp nhận tình trạng bội chi ở mức cao.

Tuy nhiên, nền kinh tế phải chịu đựng bội chi trong bao lâu là vô cùng quan trọng. Theo quan điểm của phó chủ nhiệm Ủy ban tài chính và ngân sách quốc hội thì bội chi dài hạn sẽ ảnh hưởng rất xấu đối với an ninh tài chính quốc gia và nền kinh tế nước ta chỉ chịu được bội chi ngắn hạn và không nên duy trì quá lâu tình trạng bội chi cao như hiện nay.

Trên đây là tư vấn của Luật Minh Khuê, Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận số: 1900.6162để được giải đáp.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự - Công ty luật Minh Khuê

Video liên quan

Chủ Đề