Trong những năm 1945 1973 mỹ chiếm giữ vị trí như thế nào trong nền kinh tế thế giới

NGUYỄN VĂN TOÀN [Tổng hợp]

Tinh thần tự cường

Trước Cách mạng Tháng Mười năm 1917, nước Nga lạc hậu hàng chục năm so các nước phát triển khác. Hầu như tất cả ngành công nghiệp chủ yếu của Nga nằm trong tay tư bản nước ngoài và ngay từ năm 1890, tư bản nước ngoài chiếm tới 47% vốn đầu tư ở Nga. Trên thực tế, vào năm 1914, dù là một đất nước chiếm một phần sáu diện tích thế giới nhưng tổng sản lượng công nghiệp của nước Nga chỉ chiếm 4% tổng sản lượng công nghiệp toàn cầu.

Trong bài “Gửi nông dân nghèo” viết năm 1903, lãnh tụ V.I.Lenin đã từng khẳng định: “Phương sách duy nhất để làm cho nhân dân lao động hết cùng khổ là thay đổi, từ dưới lên trên, chế độ hiện nay trên toàn quốc và lập chế độ xã hội chủ nghĩa”. Đặc biệt đối với giai cấp công nhân, Lenin khẳng định: “Đến khi đó, của cải sẽ tăng lên còn rất nhanh chóng hơn nữa, vì công nhân lao động cho bản thân mình, sẽ làm tốt hơn là làm cho bọn tư bản, ngày lao động sẽ ngắn hơn, tình cảnh của công nhân sẽ khá hơn, tất cả đời sống của họ sẽ hoàn toàn thay đổi”.

Sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917, nước Nga Xô-viết ra đời, bắt đầu thực thi “Sắc lệnh ruộng đất”. Nông dân đã nhận được miễn phí hơn 150 triệu ha ruộng đất từ giai cấp địa chủ, được xóa tiền nợ. Một vấn đề quan trọng nhằm cải thiện đời sống nhân dân lao động là cần phải nâng cao năng suất lao động. Như V.I.Lenin nhận định: “Công nhân tự nguyện tự giác, liên hợp với nhau, sử dụng 
kỹ thuật hiện đại thì mới có thể tạo ra năng suất lao động cao hơn”.

Joseph Stalin, người kế tục sự nghiệp của V.I.Lenin từng chỉ rõ: “Biến nước Nga từ một nước nông nghiệp thành một nước công nghiệp có thể tự lực sản xuất thiết bị cần thiết, đưa nước ta từ một nước nhập khẩu thiết bị thành một nước chế tạo được các thiết bị ấy. Đó là điều bảo đảm sự độc lập kinh tế của nước ta và không phụ thuộc vào các nước tư bản chủ nghĩa”. Từ tinh thần đó, Liên Xô quyết tâm trở thành một quốc gia tự cường. 

Trong 13 năm trước Chiến tranh thế giới thứ hai, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô đứng đầu là Joseph Stalin, Liên Xô đã xây dựng được 9.000 xí nghiệp lớn, trang bị kỹ thuật hiện đại, nhiều ngành công nghiệp mới quan trọng đã ra đời. So năm 1913, đến năm 1940, sản lượng công nghiệp của Liên Xô tăng hơn 12 lần; tỷ trọng công nghiệp đã chiếm ưu thế trong nền kinh tế quốc dân [hơn ba phần tư tổng sản lượng]; sản lượng của ngành chế tạo máy tăng 35 lần; sản lượng điện tăng 24 lần…

Nếu năm 1913, tổng sản lượng công nghiệp của nước Nga đứng hàng thứ năm trên thế giới [sau Mỹ, Anh, Pháp và Đức] thì đến năm 1937, sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã vượt lên đứng hàng thứ hai trên thế giới [chỉ sau Mỹ]. Tỷ trọng công nghiệp của Liên Xô trong sản lượng công nghiệp thế giới đã lên đến 14%. Trong lịch sử, để trở thành một nước công nghiệp, nước Anh cần 200 năm, nước Mỹ cần 120 năm, Nhật Bản cần 40 năm, trong khi Liên Xô chỉ cần 18 năm để hoàn thành về cơ bản quá trình công nghiệp hóa của mình. Đây là tốc độ công nghiệp hóa nhanh nhất mà thế giới từng ghi nhận. Thế và lực của Liên Xô tăng lên nhanh chóng trên trường quốc tế.

Cũng từ nền tảng thành tựu nói trên, Liên Xô đã đứng vững trong cuộc chiến tranh Vệ quốc [1941-1944]. Sau chiến tranh, dưới sự chỉ đạo của quyết định “Về những biện pháp cấp bách khôi phục kinh tế ở các vùng được giải phóng khỏi sự chiếm đóng của phát-xít” của Joseph Stalin, đến cuối năm 1945, Liên Xô đã khôi phục được 7.500 nhà máy và xí nghiệp, hàng nghìn nông trường quốc doanh và hợp tác xã.

Thời kỳ 1945 - 1953 là giai đoạn mà niềm phấn khởi, tự hào của người dân Liên Xô dâng cao khi nền kinh tế đã được hồi phục và phát triển nhanh chóng. Thu nhập quốc dân từ năm 1940 đến năm 1950 tăng 64%. Năm 1954, Liên Xô là quốc gia đầu tiên có nhà máy điện nguyên tử. Hai sự kiện này đặt dấu chấm hết cho sự độc quyền về vũ khí hạt nhân của Mỹ. Thủ tướng Anh Winston Churchill [1874-1965] cũng phải đành thừa nhận: “Stalin đã tiếp nhận một nước Nga đi giày cỏ và để lại một nước Nga với vũ khí hạt nhân”.

Trở thành siêu cường

Sau khi Joseph Stalin mất [năm 1953], Liên Xô tiếp tục đi theo con đường tự cường. Đặc biệt, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Liên Xô Leonid Brezhnev [1906 -1982] đã tiến hành cải cách kinh tế và áp dụng những cải cách này trong kế hoạch 5 năm lần thứ VIII [1965 - 1969]. Kết quả đạt được của kế hoạch 5 năm lần thứ VIII rất khả quan khi sản lượng công nghiệp tăng 50%, 1.900 xí nghiệp công nghiệp mới được xây dựng; chưa bao giờ nông nghiệp được cung cấp nhiều máy móc như giai đoạn này. Các kế hoạch 5 năm giai đoạn 1970 - 1985, Liên Xô tiếp tục thu được nhiều thành tựu quan trọng. Đặc biệt, đến năm 1972, tổng sản lượng công nghiệp của Liên Xô đã tăng 321 lần so năm 1922 [năm Liên Xô thành lập], thu nhập quốc dân cũng tăng tới 112 lần.

Trong thập niên 70 thế kỷ 20, Liên Xô được lợi rất lớn từ nguồn thu do xuất khẩu dầu mỏ đem lại và cũng là một trong nguồn lực chính giúp Liên Xô nâng cao phúc lợi của người dân, tăng cường tiềm lực quốc phòng, mở rộng ảnh hưởng quốc tế. Cụ thể, năm 1975, Liên Xô sản xuất được 490 triệu tấn dầu thô và vượt Mỹ - vốn là một trong những nước sản xuất dầu lớn nhất thế giới thời đó. Cũng trong giai đoạn này, Liên Xô có nền khoa học - công nghệ phát triển mạnh mẽ với nhiều ngành khoa học đứng hàng đầu thế giới, điển hình như khoa học vũ trụ. Công nghệ sản xuất ở Liên Xô cũng được chú trọng đổi mới và phát triển. Chính vì thế, Liên Xô phát triển khá ổn định, đổi mới nhanh chóng, thực hiện cơ giới hóa và điện khí hóa; ngành chế tạo máy luôn giữ vai trò chủ đạo và đứng hàng đầu thế giới.

Về mặt quốc phòng, đến giữa những năm 70 thế kỷ 20, Liên Xô đã đạt thế cân bằng về chiến lược trong lĩnh vực vũ khí với phương Tây. Chi phí quốc phòng của Liên Xô năm 1974 đạt con số 105 tỷ USD, vượt Mỹ [85 tỷ USD]. Về lực lượng quân sự, khối Warsaw [khối Hiệp ước Warsaw, Liên Xô tham gia khối này] đã vượt lên khối NATO [Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương].

Vào đầu những năm 80 thế kỷ 20, cứ năm người lao động ở Liên Xô thì có một người tốt nghiệp đại học hoặc các trường kỹ thuật. Nhịp độ phát triển của ngành đại học và trung học của Liên Xô đã vượt xa các nước tư bản. Số sinh viên của Liên Xô lớn gấp hai lần số sinh viên của 15 nước châu Âu cộng lại. Mạng lưới thư viện và các hoạt động thông tin tư liệu không ngừng được mở rộng để phục vụ hệ thống giáo dục quốc dân và nâng cao dân trí. Năm 1983, Liên Xô đã có 134 nghìn thư viện công cộng với hơn hai tỷ đầu sách.

Về đối ngoại, Đảng và Nhà nước Xô-viết đã thực hiện chính sách nhằm mục tiêu chủ yếu và phương hướng cơ bản gồm: Bảo đảm các điều kiện thuận lợi cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội; loại trừ nguy cơ chiến tranh, duy trì hòa bình và an ninh chung; mở rộng việc hợp tác với các nước xã hội chủ nghĩa; phát triển quan hệ hữu nghị, bình đẳng với các nước tư bản chủ nghĩa trên cơ sở chung sống hòa bình, hợp tác thiết thực, cùng có lợi...

Nhà kinh tế học Mỹ Wassily Leontief, người đoạt Giải Nobel Kinh tế năm 1973, từng ca ngợi nền kinh tế kế hoạch của Liên Xô do đã đạt được bước đại nhảy vọt về công nghiệp trong những năm 30 thế kỷ 20. Leontief nhận định, vì có nền kinh tế kế hoạch mà Liên Xô đã nhanh chóng phục hồi sau Chiến tranh thế giới thứ hai [1939 - 1945], cho rằng nhờ nền kinh tế kế hoạch đã giúp Liên Xô đạt được tốc độ tăng trưởng tương đương Mỹ, thậm chí còn vượt cả Tây Âu vào thập niên 70 và đầu thập niên 80 thế kỷ 20.

Người sáng lập tập đoàn Hyundai Chung Ju-yung đã đưa 1.001 con bò đến Bắc Triều Tiên thông qua làng đình chiến Bàn Môn Điếm vào tháng 6 và tháng 10/1998. Ông Chung sinh ra và lớn lên tại xã Asan, huyện Tongcheon, tỉnh Gangwon, nay thuộc Bắc Triều Tiên. Ông đã bí mật xuống miền Nam năm 17 tuổi với 70 won kiếm được nhờ bán con bò của cha mình. Để trả ơn cha, ông đã tặng đàn gia súc 1.001 con cho Bắc Triều Tiên. Sự kiện này đã góp phần tiếp thêm xung lực cho giao lưu biên giới liên Triều.

Source : e-history

Chương trình du lịch núi Geumgang ở Bắc Triều Tiên chính thức khởi động ngày 18/11/1998, cho phép người dân Hàn Quốc tới Bắc Triều Tiên, đánh dấu cột mốc mới trong lịch sử chia cắt bán đảo Hàn Quốc. Dự án đã trở thành biểu tượng của hợp tác liên Triều nhờ những nỗ lực không ngừng nghỉ suốt 10 năm của doanh nhân Tập đoàn Hyundai kết hợp với chính sách “Ánh dương” của Hàn Quốc. Tuy vậy, chương trình này cũng bị ảnh hưởng theo những thăng trầm của quan hệ liên Triều.

Source : KDAS

Sáng 15/6/1999, các tàu tuần tra, tàu ngư lôi cùng 20 tàu đánh cá của Bắc Triều Tiên đã vượt qua Đường ranh giới liên Triều trên biển [NLL] và tiến 2 km về phía Nam. Hải quân Hàn Quốc đã phát loa cảnh báo và đâm vào tàu của Bắc Triều Tiên hai lần. Cuộc đụng độ trên biển đã làm 7 thủy thủ Hàn Quốc bị thương, một tàu Bắc Triều Tiên bị đánh chìm và 5 tàu ​​bị hư hỏng nặng.

Source : KDAS

Trong bài phát biểu nhậm chức năm 1998, Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-jung đã nhấn mạnh khả năng của một hội nghị cấp cao giữa hai miền Nam-Bắc. Chính phủ Hàn Quốc sau đó đã đề xuất Hội nghị thượng đỉnh liên Triều và hoạt động trao đổi đặc phái viên. Trong ba ngày từ 13/6/2000, Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-jung và nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên Kim Jong-il đã tổ chức Hội nghị thượng đỉnh tại Bình Nhưỡng và thông qua Tuyên bố chung 15/6. Đây là một bước ngoặt lịch sử đặt dấu chấm hết cho sự thù địch, mở ra một kỷ nguyên thống nhất mới cho hai miền Nam-Bắc bán đảo Hàn Quốc.

Source : KDAS

Tuyến đường sắt Gyeongui ở phía Tây bán đảo Hàn Quốc đã bị cắt đứt kể từ khi hai miền phân chia ranh giới. Đoạn bị ngắt dài 20 km, gồm 12 km ở phía Hàn Quốc và 8 km trên lãnh thổ Bắc Triều Tiên. Sau Hội nghị thượng đỉnh liên Triều năm 2000, Seoul và Bình Nhưỡng đã tổ chức các cuộc hội đàm cấp Bộ trưởng để thực hiện dự án kết nối lại tuyến đường sắt xuyên biên giới. Tháng 9/2000, Hàn Quốc đã xây dựng đoạn đường sắt giữa Munsan và đường ngừng bắn, trong khi Bắc Triều Tiên tiến hành xây dựng độc lập đoạn đường sắt giữa Gaesung và đường biên giới.

Source : KDAS

15 năm kể từ sự kiện trao đổi các nhóm thăm gia đình và đoàn biểu diễn văn hóa tháng 9/1985, không hề có tiến triển nào về vấn đề gia đình ly tán của hai miền. Theo thỏa thuận tại vòng đàm phán Chữ thập đỏ liên Triều đầu tiên tháng 6/2000, 1.170 thành viên các gia đình ly tán đã có những cuộc đoàn tụ đẫm nước mắt với người thân ở Seoul và Bình Nhưỡng năm đó. Ở vòng đàm phán Chữ thập đỏ lần thứ 5 tháng 11/2003, hai miền đã đồng ý phương án thực hiện các cuộc đoàn tụ qua video để giải quyết vấn đề gia đình ly tán. Tại cuộc họp Hội Chữ thập đỏ lần thứ 9 tháng 11/2007, hai bên đã đồng ý mở rộng các cuộc đoàn tụ và tổ chức chương trình thường xuyên. Thông qua các nhân viên liên lạc tại làng đình chiến Bàn Môn Điếm ngày 5/2/2008, hai miền đã thống nhất về việc trao đổi thư từ video giữa các gia đình bị ly tán. Theo đó, 20 gia đình mỗi bên sẽ tiến hành thử nghiệm trao đổi thư video. Các cuộc đoàn tụ gia đình trực tiếp thứ 17 và 18 lần lượt được tổ chức vào năm 2009 và 2010. Sau vụ việc pháo binh Bắc Triều Tiên tấn công đảo biên giới Yeonpyeong của Hàn Quốc cuối năm 2010, chương trình đoàn tụ đã bị đình chỉ một thời gian rồi nối lại vào tháng 2/2014. Ngày 25/8/2015, miền Nam và miền Bắc đã tổ chức thảo luận cấp cao và đồng ý thực hiện một vòng đoàn tụ mới. Theo thỏa thuận, vòng 20 của các cuộc hội ngộ đã diễn ra vào tháng 10 năm đó. Hai miền đều nhận thấy cần đề cập đến vấn đề nhân đạo này một lần nữa trong Hội nghị thượng đỉnh liên Triều tại làng đình chiến Bàn Môn Điếm ngày 27/4/2018, tạo đà cho sự kiện đoàn tụ thứ 21 diễn ra ở núi Geumgang tháng 8 cùng năm.

Source : KDAS

Tuyến đường sắt Gyeongui mở cửa năm 1906 nối Seoul với Sinuiju ở phía Tây bán đảo Hàn Quốc đã phải ngừng hoạt động trong chiến tranh Bắc Triều Tiên. Sau Hội nghị thượng đỉnh liên Triều năm 2000, hai miền Nam-Bắc đã nhất trí kết nối lại tuyến đường sắt. Sau khi công tác trùng tu hoàn tất, ga Dorasan, điểm dừng chân cực Bắc của tuyến Gyeongui ở Hàn Quốc bắt đầu đi vào hoạt động tháng 4/2002. Cùng năm, Tổng thống Mỹ George W. Bush và Tổng thống Hàn Quốc Kim Dae-jung đã đến thăm nhà ga và phát biểu tại đây. Kể từ đó, điểm cuối cùng trong tuyến đường sắt liên Triều cũng gắn liền với biểu tượng của mong muốn hòa bình và thống nhất.

Source : KDAS

Trận hải chiến đảo Yeonpyeong thứ hai nổ ra đúng ngày diễn ra trận tranh hạng ba giải vô địch bóng đá thế giới World Cup Hàn-Nhật năm 2002. Hai tàu tuần tra của Bắc Triều Tiên đã xâm phạm đường ranh giới liên Triều trên biển Tây [NLL] và đi xuống phía Nam. Hải quân Bắc Triều Tiên đã đột ngột nã pháo vào tàu cao tốc Chamsuri-357 của Hải quân Hàn Quốc, châm ngòi cho trận chiến khốc liệt trên biển. 6 binh sỹ Hàn Quốc, trong đó có đội trưởng, Thiếu tá Yoon Young-ha, đã hy sinh,18 người khác bị thương, tàu cao tốc Chamsuri-357 bị đánh chìm. Phía Bắc Triều Tiên cũng gần như tê liệt hoàn toàn và phải rút lui với khoảng 30 người thiệt mạng hoặc bị thương, tàu tuần tra số hiệu 684 bị hư hại nặng.
Trận hải chiến đảo Yeonpyeong lần thứ hai ngày 29/6/2002 thực sự là một cú sốc bởi nó diễn ra ngay sau chuyến thăm tháng 4/2002 của một đặc phái viên Hàn Quốc tới Bắc Triều Tiên, với mục đích khôi phục quan hệ liên Triều.

Source : KDAS

Mâu thuẫn giữa Bắc Triều Tiên và Mỹ tiếp tục leo thang do thái độ bất hợp tác của Bình Nhưỡng trong công tác kiểm tra lò hạt nhân, và chậm trễ trong xây dựng lò phản ứng nước nhẹ của Mỹ. Cuộc khủng hoảng hạt nhân Bắc Triều Tiên lần hai xảy ra vào tháng 10/2002 khi nước này được cho là bắt đầu làm giàu uranium. Sau đó, Bắc Triều Tiên tuyên bố sẽ chấm dứt đóng băng hạt nhân và nối lại hoạt động các cơ sở hạt nhân. Ngày 10/1/2003, miền Bắc một lần nữa tuyên bố rút khỏi NPT. Kể từ khi NPT có hiệu lực năm 1970, chưa có quốc gia nào đơn phương rút khỏi Hiệp ước. Do đó, động thái của Bắc Triều Tiên đã đặt ra thách thức lớn cho nỗ lực chống phổ biến hạt nhân toàn cầu.

Source : KDAS

Khu công nghiệp liên Triều Gaesung là dự án thương mại kết hợp vốn và công nghệ của Hàn Quốc với đất đai và nhân lực của Bắc Triều Tiên. 15 công ty Hàn Quốc đã bắt đầu hoạt động thí điểm tại khu công nghiệp từ tháng 6/2004. Dự án lịch sử này đã mở ra trang mới cho giao lưu và hợp tác liên Triều, có ý nghĩa kinh tế-xã hội và văn hóa to lớn. Dự án đóng góp ngày càng nhiều cho thương mại liên Triều, chiếm tỷ trọng tới 99,6% năm 2015. Khu công nghiệp còn phát triển thành một cộng đồng kinh tế và dân sinh, với 54.800 công nhân Bắc Triều Tiên và 800 người Hàn Quốc làm việc cùng nhau. Tuy vậy, dự án cũng trải qua nhiều thăng trầm do bất ổn trong quan hệ liên Triều và vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Cuối cùng, vào tháng 2/2016, Chính phủ Hàn Quốc đã đình chỉ mọi hoạt động tại khu công nghiệp này sau khi miền Bắc tiến hành vụ thử nghiệm hạt nhân thứ 4 và phóng vũ khí tầm xa, nghi ngờ rằng lợi nhuận từ Khu công nghiệp Gaesung đã được sử dụng để phát triển vũ khí hạt nhân.

Source : KDAS

Tháng 2/2005, Bộ Ngoại giao Bắc Triều Tiên chính thức tuyên bố miền Bắc sở hữu vũ khí hạt nhân với mục đích chính là "tự vệ." Tháng 4/2012, nước này đã sửa đổi hiến pháp và tuyên bố là cường quốc hạt nhân.

Source : KDAS

Ngày 19/9/2005, Bắc Triều Tiên tuyên bố quyết định từ bỏ toàn bộ vũ khí hạt nhân với cộng đồng quốc tế. Trên cơ sở này, đại diện của Hàn Quốc, Bắc Triều Tiên, Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản và Nga đã nhất trí ra “Tuyên bố chung 19/9” tại vòng đàm phán 6 bên lần thứ tư, đánh dấu khởi đầu của một chế độ hòa bình, bởi Bắc Triều Tiên từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân sẽ dẫn đến phi hạt nhân hóa bán đảo Hàn Quốc. Tuy nhiên, Tuyên bố chung 19/9 hầu như không còn hiệu lực sau khi Washington chỉ trích Bắc Triều Tiên là nước tài trợ cho khủng bố, và Bình Nhưỡng đáp trả bằng một vụ phóng vũ khí tháng 7/2006 và vụ thử hạt nhân đầu tiên vào tháng 10 cùng năm.

Source : KDAS

Bắc Triều Tiên tiến hành vụ thử hạt nhân đầu tiên ngày 9/10/2006, bất chấp những lo ngại và cảnh cáo từ các nước láng giềng, đặc biệt là Trung Quốc. Ngay sau đó, Liên Hợp Quốc đã thông qua một nghị quyết gây áp lực mạnh mẽ lên miền Bắc. Bình Nhưỡng quyết liệt phản đối nghị quyết này và đe dọa sử dụng tất cả các biện pháp có thể để tăng cường khả năng tự vệ. Hội đồng bảo an Liên hợp quốc đã thông qua Nghị quyết 1718 với nội dung cấm hoàn toàn các các hoạt động thương mại và chuyển giao công nghệ, tài sản có liên quan đến phát triển vũ khí hủy diệt hàng loạt với miền Bắc, đồng thời cấm nhập cảnh đối với các quan chức liên quan đến vấn đề hạt nhân của Bắc Triều Tiên.

Source : KDAS

Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun đã tới Bình Nhưỡng từ ngày 2-4/10/2007 để hội đàm với Chủ tịch Kim Jong-il. Đây được coi là Hội nghị thượng đỉnh liên Triều lần thứ hai sau Hội nghị thượng đỉnh tháng 6/2000 tại Bình Nhưỡng. Tổng thống Roh là nhà lãnh đạo Hàn Quốc đầu tiên đi qua biên giới tới Bắc Triều Tiên bằng đường bộ ngày 2/10. Ngay hôm sau, hai nhà lãnh đạo đã có buổi hội đàm, đến ngày 4/10 thông qua “Tuyên bố chung về sự phát triển của quan hệ liên Triều và hòa bình thịnh vượng” trên cơ sở Tuyên bố chung 15/6/2000. Theo đó, hai bên nhất trí theo đuổi một Hội nghị thượng đỉnh từ 3 tới 4 bên để giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Hàn Quốc, tích cực xúc tiến các dự án hợp tác kinh tế liên Triều, và mở rộng quy mô đoàn tụ thành viên các gia đình bị ly tán

Source : KBS News

Video liên quan

Chủ Đề