Chồng của bà trưng nhị tên là gì năm 2024

Tôi có đọc một bài báo của một sử gia Nam Việt là Nguyễn Phương viết ở thập kỉ 1960s về hai bà Trưng. Tôi chưa bao giờ xem xét kĩ các nguồn thông tin về cuộc nổi dậy này, nhưng bài báo của Nguyễn Phương khiến tôi nhận ra rằng chúng có vấn đề.

Điều giờ đây tôi có thể thấy là có hai bản tường thuật về hai bà Trưng và rằng một trong hai bản đó đã dần chi phối truyền thống sử học (mặc dù nó cũng thay đổi theo thời gian), trong khi bản kia thì không. Và trong phạm vi tôi có thể nói, phiên bản không chi phối đó là chính xác hơn.

Chồng của bà trưng nhị tên là gì năm 2024

Phiên bản đầu tiên xuất hiện khoảng năm 445 sau Công lịch trong cuốn Hậu Hán thư (Hou Hanshu 後漢書) của Fan Ye (Phạm Việp), như sau:

“Năm thứ 16, người con gái Giao Chỉ là Trưng Trắc và em gái Trưng Nhị làm phản, tấn công [đầu não của] quận. Trưng Trắc là con gái của một Lạc tướng ở huyện Mê Linh (Mê đọc là Mê, Linh đọc là Linh). Thị lấy Thi Sách ở Chu Diên làm vợ, rất khỏe mạnh và can đảm. Thái thú Giao Chỉ là Tô Định dùng luật để trừng phạt thị. Trắc phẫn nộ vì vậy nổi dậy. Sau đó, các tộc Man ở Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Bố đều hưởng ứng [lời kêu gọi của chúng] và chiếm 65 thành. Trắc tự xưng là vua” 至十六年,交阯女子徵側及其妹徵貳反,攻郡。徵側者,麊泠縣雒將之女也。(麊音莫支反,泠音零。) 嫁為朱䳒人詩索妻,甚雄勇。交阯太守蘇定以法繩之,側忿,故反。於是九眞、日南、合浦蠻里皆應之,凡略六十五城,自立為王.

Chồng của bà trưng nhị tên là gì năm 2024

Phiên bản thứ hai xuất hiện sau đó gần một thế kỉ (~515-524) trong cuốn Thủy kinh chú (Shuijing zhu 水經注)của Li Daoyuan (Lịch Đạo Nguyên), như sau:

“Sau con trai của một Lạc tướng ở Chu Diên có tên Thi lấy con gái Lạc tướng Mê Linh là Trưng Trắc làm vợ. Trắc rất can đảm. Thị lôi kéo Thi khởi loạn (chú: gần đây khắc sai “Thi” thành “thê”), tấn công [đầu não của] châu quận và chinh phục các Lạc tướng khác, họ đều tôn Trắc làm vua, đóng đô ở Mê Linh” 後朱䳒雒將子名詩索麊冷雒將女名徵側為妻。側為人有膽勇,將詩起賊 (案近刻訛為妻),攻破州郡,服諸雒將,皆屬徵側為王,治麊泠縣.

Chồng của bà trưng nhị tên là gì năm 2024

Sự khác biệt đầu tiên mà chúng ta thấy ở đây là trong Thủy kinh chú, tên của chồng Trưng Trắc là Thi chứ không phải Thi Sách. Điều này thực sự hữu lí hơn.

Ở thế kỉ XVIII có một học giả có tên là Zhao Yiqing đã chỉ ra vấn đề này trong một bản chú thích cuốn Thủy kinh chú do ông thực hiện – cuốn Thủy kinh chú thích (Shuijing zhu shi 水經注釋).

Vấn đề liên quan đến chữ mà Phạm Việp hiểu là bộ phận của một cái tên, và Lịch Đạo Nguyên hiểu là một động từ có nghĩa là “tìm lấy”. Zhao Yiqing chú như sau:

“sách thê” (索妻) cũng giống như “thú phụ” (娶婦). Đoạn văn trong Nam Man Tây Nam Di truyện nói “giá vi Chu Diên nhân thi sách thê” hoàn toàn nhầm lẫn” 一清按索妻猶言娶婦。範史南蠻西南夷傳云,嫁為朱鳶人詩索妻,亦謬之甚矣。嫁為朱䳒人詩索妻,甚雄勇。

Chồng của bà trưng nhị tên là gì năm 2024

Điều này là có lí, bởi câu văn trong Hậu Hán thư là rối rắm (“Thị lấy Thi Sách ở Chu Diên làm vợ mình, rất khỏe mạnh và can đảm” – 嫁為朱䳒人詩索妻,甚雄勇), đặc biệt là câu “lấy … làm vợ mình” 嫁為. . . 妻 và sự chuyển mạch giữa “thê” và từ tiếp theo “thậm” 甚 (rất).

Mặc khác, câu văn trong Thủy kinh chú rất thuận “Sau con trai của một Lạc tướng ở Chu Diên có tên Thi lấy con gái Lạc tướng Mê Linh là Trưng Trắc làm vợ. Trắc rất can đảm” 後朱䳒雒將子名詩索麊冷雒將女名徵側為妻。側為人有膽勇.

Chồng của bà trưng nhị tên là gì năm 2024

Rồi ở đầu thế kỉ XX, Yang Shoujing và Xiong Huizhen đã làm một bản chú thích khác về cuốn Thủy kinh chú – tức Thủy kinh chú sớ (Shuijing zhu shu 水經注疏) – trong đó họ chỉ ra rằng có một đoạn văn trong một cuốn loại thư thế kỉ X có tên Thái Bình hoàn vũ kí (Taiping huanyu ji 太平寰宇記) trong đó chứng minh rằng từ được dùng ở khu vực đồng bằng sông hồng (tức Giao Chỉ hoặc Giao Châu) với nghĩa là “tìm lấy (vợ).

Có một đoạn văn nói về phong tục ở Giao Châu, trong đó khẳng định rằng về người đàn ông tìm lấy vợ, trước khi anh ta lấy vợ, anh ta gửi đến một mâm cau. Khi cô gái ăn hết mâm cau đó thì họ trở thành vợ chồng” 索婦之人,未婚前,先送檳榔一盤,女食盡則成親.

Chồng của bà trưng nhị tên là gì năm 2024

Vậy là có vẻ như đối với tôi đã rõ ràng rằng đoạn văn nói về hai bà Trưng trong Thủy kinh chú chính xác hơn ở điểm này. Tuy nhiên, thông tin được người Việt Nam ghi chép rốt cuộc lại theo Hậu Hán thư của Phạm Việp. Các nguồn tư liệu của người Việt cũng theo Hậu Hán thư theo những cách thức khác.

Tôi băn khoăn tại sao lại có chuyện đó? Có phải người ta không nhớ tên chồng bà Trưng Trắc?

Tôi đính kèm bài báo của Nguyễn Phương ở đây (Nguyen Phuong on Trung sisters).

Tags: Hai Bà Trưng, Nguyễn Phương; Hậu Hán thư; Thủy kinh chú; Đại Việt sử kí toàn thư, Tô Định, Thi Sách, Trưng Trắc

Một ngày đầu năm 1994, từ anh Tống Văn Thụy, người “đồng môn lớp trên”, tôi nhận được thông tin: Linh mục Nguyễn Phương, vị thầy học khả kính của chúng tôi ở Đại học Văn khoa Huế đã từ trần tại một tu viện ở Brazil sau một cuộc phẩu thuật tim. Rất xúc động. Tối đó tôi đã viết bài này và sau đó đăng trên Tạp chí Kiến thức Ngày nay. Hôm nay (6/2 Âm lịch) kỷ niệm 1978 năm ngày mất (cũng là Kỷ niệm 1981 năm cuộc khởi nghĩa) của Hai Bà. Xin đăng lại!

Lê Thí (SĐ-HTK)

***

Lâu nay trong tất cả tài liệu sách báo chúng ta đều nói rằng chồng của Trưng Trắc là Thi Sách, con trai của quan Lạc tướng huyện Châu Diên. Thi Sách bị Thái thú Giao Chỉ là Tô Định giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị nổi dậy đánh duổi Tô Định chạy về Tàu để trả thù cho chồng, rửa hờn cho nước. Sự việc xảy ra vào năm 40 Công nguyên.

Nhưng cách đây hơn 30 năm, tôi có đọc một tài liệu lịch sử được viết một cách rất nghiêm túc lại cho rằng thực tế chồng của Trưng Trắc tên là Thi chứ không phải là Thi Sách. Đó là quyển Phương pháp sử học của GS LM. Nguyễn Phương do Viện Đại học Huế xuất bản năm 1964.

Trong tài liệu đó tác giả Nguyễn Phương đã đưa ra những chứng lí hết sức lí thú và rất chặt chẽ để biện dẫn cho ý kiến của mình và giải thích nguyên nhân dẫn đến sự sai lầm này.

Theo tác giả Nguyễn Phương thì tài liệu lịch sử đầu tiên nói về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng là quyển Hậu Hán thư do Thái thú Phạm Việp viết vào thế kỉ thứ V. Trong tài liệu này không hề đề cập đến tên chồng bà Trưng Trắc. Sách chỉ viết: “Hữu Giao chỉ nữ tử Trưng Trắc cập nữ đệ Trưng Nhị phản công dịch kỳ quận”.

Tạm dịch: “Giao Chỉ có nữ tử Trưng Trắc cùng em gái là Trưng Nhị làm phản đóng chiếm (ở) quận ấy”.

Tiếp theo Hậu Hán thư, vào thế kỉ thứ VI, Lệ Đào Nguyên là người là người đầu tiên đề cập đến tên chồng của bà Trưng Trắc trong tác phẩm Thủy kinh chú. Lệ Đào nguyên viết “châu diên lạc tướng tử danh thi sách mê linh lạc tướng nữ danh trưng trắc vi thê trắc vi nhân hữu đảm dũng tương thi khỉ tặc mã viện tương binh phạt trắc thi tẩu nhập kim khê”. (Đoạn này trích nguyên Thủy kinh chú không viết hoa và chấm phẩy, ngắt câu theo tinh thần của chữ Hán cổ).

Đến thế kỉ thứ VIII, Thái tử Hiền đã chú thích cho bộ Hậu Hán thư và đã dùng đoạn trên trong Thủy kinh chú để nói rõ hơn về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng.

Sau các chữ “Trưng Nhị phản….” trong Hậu Hán thư như vừa trích ở trên, Thái tử Hiền viết thêm lời chú: “Trưng Trắc giả Mê Linh huyện Lạc tướng chi nữ giả vi Châu Diên Thi Sách thê, thậm hùng dũng”. Tạm dịch: “Trưng Trắc, con gái của Lạc tướng Mê Linh (là) vợ của Thi Sách người Châu Diên, rất hùng dũng”.

Ở đây câu văn nguyên của Thủy kinh chú đã bị rút ra khỏi đồng đoạn và vì thế khi đọc lên người đọc thấy ngay rằng ý của Thái tử Hiền lấy Thi Sách làm một tên riêng.

Sai lầm bắt đầu từ đây.

Về sau các sử gia Việt Nam khi viết về cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng đều dựa vào Hậu Hán thư để viết, vì vậy đều cho rằng chồng bà Trưng Trắc tên là Thi Sách (Có thể chỉ có mình Lê Văn Hưu dựa theo Hậu Hán thư có lời chú của Thái tử Hiền nên viết sai, sau nầy Ngô Sĩ Liên theo Lê Văn Hưu mà viết nên cũng sai nốt – nên nhớ Lê Văn Hưu viết Đại Việt sử kí vào thế kỉ XIII, còn Ngô Sĩ Liên viết Đại Việt sử kí toàn thư vào thế kỉ XV. Còn các sử gia sau nầy cứ tiếp tục theo Lê văn Hưu và Ngô Sĩ liên mà viết, nên cứ đinh ninh rằng chồng bà Trưng Trắc tên là Thi Sách cho mãi đến bây giờ).

Để hiểu rõ lí giải của LM. Nguyễn Phương xin mời đọc lại ý kiến của ông trong tác phẩm đã dẫn ở trên:

“Các học giả Việt Nam như Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên cũng như nhiều người khác chắc ít khi đọc đến những bộ sách dài dằng dặc và ít hứng thú như bộ Thủ kinh chú, trái lại họ chỉ đọc Hậu Hán thư và cứ đinh ninh rằng Thi Sách là tên chồng bà Trưng Trắc. Nhưng giả sử họ có biết đến đoạn văn chính thức của Thủy kinh chú như vừa trích lại ở trên thì nhất thiết họ phải nhận thấy rằng tên ông đó chỉ là Thi mà thôi chứ không thể nào là Thi Sách được. Quả thế nếu chấm phẩy cho đúng và hiểu cho đúng thì câu văn của Lệ Đào Nguyên phải viết ra Hán Việt như thế này: “Châu Diên Lạc tướng tử danh Thi, sách Mê Linh Lạc tướng nữ danh Trưng Trắc vi thê. Trắc vi nhân hữu đảm dũng tương Thi khỉ tặc. Mã Viện tương binh phạt. Trắc, Thi tẩu nhập Kim Khê” nghĩa là “Con trai quan Lạc tướng Châu Diên là Thi, lấy con gái vị Lạc tướng Mê Linh là Trưng Trắc làm vợ. Trắc là người có đảm dũng cùng Thi nổi dậy làm giặc. Mã Viện đem binh sang đánh. Trắc và Thi chạy vào Kim Khê”. Chúng ta thấy rằng tác giả Thủy kinh chú khi gọi bà Trưng Trắc (cả hai chữ) khi thì gọi bằng Trắc (một chữ) và khi gọi bằng một chữ như vậy ông gọi với chữ sau (Trắc) chứ không với chữ trước (Trưng). Vậy mà giả sử tên chồng của bà Trưng là Thi Sách thì khi gọi tắt bằng một chữ, ông sẽ phải dùng chữ Sách chứ không phải chữ Thi, ấy thế mà hai lần sau ông vẫn cứ dùng chữ Thi chứ không lặp lại chữ Sách. Đằng khác chiếu theo nghĩa của câu văn thì phải hiểu rằng tên chồng bà Trưng là Thi mới đúng bởi vì “Sách vi thê” có nghĩa là “lấy làm vợ” (SĐD trang 96,97).

LM. Nguyễn Phương cũng cho rằng không phải ông là người đầu tiên phát hiện ra sự sai lầm này. Người đầu tiên đề cập đến cái sai của Thái tử Hiền chính là Huệ Đồng, một cụ đồ nho người Tàu. Huệ Đồng đã đề cập đến sai lầm này khi bổ chú cho Hậu Hán thư. Lời bổ chú này được đăng trong phần phụ lục của truyện Mã Viện với nội dung như sau: Cứu Triệu Nhất Thanh viết: Sách thê do ngôn thú thê. Phạm sử tác “Giả vi Châu Diên nhân thi sách thê” mậu hỉ, án thủy kinh chú, ngôn tương Thi “ngôn Trắc. Thi minh chỉ danh Thi”. (nghĩa là xét Triệu Nhất Thanh nói rắng sách thê có nghĩa là cưới vợ, quyển sử của Phạm chép “gả làm vợ người Châu Diên thên là Thi Sách” là lầm vậy, xem Thủy kinh chú thấy nói tương Thi rồi nói Trắc và Thi chỉ rõ rằng tên ông đó là Thi). SĐD trang 97.

Hàng năm cứ đến ngày 8/3, ngày quốc tế phụ nữ cũng là ngày Kỉ niệm khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chúng ta thường lặp đi lặp lại ở khắp nơi rằng chồng bà Trưng trắc tên là Thi Sách; vả lại cho rằng bà Trưng nổi dậy trước để trả thù chồng sau để rửa hờn cho nước là không đúng sự thật và hạ thấp ý nghĩa của của cuộc khởi nghĩa. Nếu LM. Nguyễn Phương nói đúng (hay đúng hơn là Thủy kinh chú nói đúng) thì cả gia đình bà Trưng đã vì “nghĩa lớn” mà nổi dậy chứ không phải chỉ vì “tình riêng” mà hy sinh.

Thiết nghĩ việc gọi đúng tên một người đã có công đấu tranh giành độc lập cho dân tộc như chồng của bà Trưng Trắc là một việc cần thiết và cũng là trách nhiệm của các nhà sử học.

Ngày nay nền sử học của chúng ta đã bước những bước dài, và điều kiện cũng thuận lợi cho phép xác định lại việc này một cách chính xác. Rất mong được nghe những lí giải hết sức lí thú và đầy sức thuyết phục của các nhà sử học.

Chồng của Trưng Trắc và Trưng Nhị là ai?

Chồng bà là Thi Sách, con trai quan Lạc tướng huyện Chu Diên (Hà Nội). Gia đình Thi Sách là một gia đình yêu nước, có thế lực ở đất Chu Diên. Trưng Trắc và Trưng Nhị vốn được nhân dân Mê Linh tin phục. Từ lâu, hai chị em bà vẫn căm thù cuộc sống bạo ngược của viên thái thú nhà Đông Hán là Tô Định.

Tại sao Trưng Trắc Trưng Nhị chết?

Năm 43, Trưng Nhị cùng Trưng Trắc chống cự với quân nhà Hán ở Cấm Khê. Quân Hai Bà thế cô không địch nổi quân Hán mạnh hơn nên bị thua. Trưng Trắc và Trưng Nhị đều mất tại đây. Hai bà đã nhảy xuống sông Hát (Hát Môn, Hà Tây cũ) tự vẫn để bảo toàn khí tiết.

Thi Sách chết khi nào?

39 SCNThi Sách / Ngày mấtnull

Trưng Trắc và Trưng Nhị Sinh ra và lớn lên ở đâu?

Trưng Trắc, Trưng Nhị là hai chị em sinh đôi, con gái quan Lạc tướng Mê Linh (miền Sơn Tây cũ và tỉnh Vĩnh Phúc ngày nay), thuộc dòng dõi Hùng Vương. Mẹ là bà Man Thiện, người làng Nam Nguyễn - Ba Vì, Sơn Tây, Hà Nội.