Mới quan hệ giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kỳ

Vấn đề đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳ trong đánh giá học sinh tiểu học

Cỡ chữ Màu chữ:

Trong thời gian qua, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đổi mới việc đánh giá học sinh tiểu học. Điểm mới nổi bật là việc chỉ dùng nhận xét, không dùng điểm số trong đánh giá thường xuyên. Bài viết này nhằm cung cấp một số các vấn đề liên quan đến thuật ngữ ``đánh giá thường xuyên’’ và ``đánh giá định kỳ’’ trong đánh giá học sinh. Bài viết cũng sơ lược giới thiệu một số các thành tố của đánh giá thường xuyên cũng như một số dạng phản hồi của giáo viên trong đánh giá thường xuyên.

Một số các kết quả nghiên cứu cho thấy việc sử dụng nhận xét trong phản hồi của giáo viên có tác dụng nâng cao được kết quả học tập cũng như hứng thú của học sinh đối với môn học cũng được bài viết đề cập đến.

Khi chúng ta nghe thấy thuật ngữ ``Đánh giá’’ hoặc ``Kiểm tra đánh giá’’ [KTĐG] chúng ta thường nghĩ về các bài thi, bài kiểm tra, điểm số, sự căng thẳng, rồi đỗ hay là trượt. Từ đó dễ bị ngộ nhận rằng KTĐG là một sản phẩm cuối cùng tách rời quá trình dạy và học. Tuy nhiên, nếu hiểu KTĐG như vậy thì chúng ta mới chỉ nhìn thấy một ``dạng’’ của KTĐG: đó là đánh giá quá trình học tập hay đánh giá tổng kết [hoặc còn được hiểu là đánh giá định kỳ, summative assessment]. Dạng KTĐG này xảy ra sau quá trình học tập và để cho chúng ta [có thể] biết những gì mà người học đã đạt được.

KTĐG vì quá trình học tập [assessment for learning], theo một cách khác lại tập trung vào quá trình học tập [hơn là sản phẩm cuối cùng] và là sự cố gắng để không phải là chứng minh quá trình học tập, mà là cải tiến quá trình đó. Dạng KTĐG này còn được gọi là đánh giá thường xuyên [formative assessment]. Đó là cách giúp chúng ta [giáo viên] cân nhắc việc cần làm tiếp theo trong quá trình học tập của học sinhvà cũng giúp thông tin để giáo viên biết quá trình học tập của học sinh đang diễn ra như thế nào.

Trong tài liệu Assesment for Learning: 10 Principles của The Assessment Reform Group, 2002 [trích dẫn lại từ tài liệu tham khảo trong [1]] các tác giả đã định nghĩa

``KTĐG vì quá trình học tập là quá trình tìm kiếm và diễn giải các chứng cứ được thể hiện ra bởi người học, và giáo viên của họ sẽ quyết định người học đang ở đâu trong quá trình học tập, người học tiếp theo sẽ tiến đến đâu và làm cách nào tốt nhất để đưa người học đến mục tiêu đó’’.

Đánh giá định kỳ và đánh giá thường xuyên không mâu thuẫn hay đối nghịch nhau trong thực tiễn giảng dạy. Do đó, việc đánh giá thường xuyên không có nghĩa là chúng ta đột nhiên không chấm và nhận xét các sản phẩm học tập của học sinh, và đánh giá định kỳ luôn có một vị trí trong thực tiễn giảng dạy. Thay vào đó, đánh giá thường xuyên và đánh giá dịnh kỳ là các cách tiếp cận có thể bổ sung cho nhau, và đánh giá thường xuyên sẽ giúp học sinh thể hiện tốt hơn trong các khi thực hiện các đánh giá định kỳ, trong khi đó đánh giá định kỳ có thể phản ánh mức độ ảnh hưởng của đánh giá thường xuyên.

Trong mọi trường hợp người giáo viên đều được khuyên nên sử dụng đánh giá thường xuyên trong thực tiễn giảng dạy của mình. Việc giới thiệu và sử dụng đánh giá thường xuyên trong lớp học có thể giúp giáo viên hoàn thành được các yêu cầu của chương trình. Thêm vào đó đánh giá thường xuyên cũng có thể mang lại các lợi ích rõ rệt cho học sinh.

Đối với đánh giá vì quá trình học tập, cụ thể là đánh giá thường xuyên thì:

  • Có sự nhấn mạnh nhiều vào quá trình học tập có thể chuyển giao
  • KTĐG trở thành một quá trình rõ ràng hơn rất nhiều bởi vì quá trình này dựa vào các thông tin quan trọng nhất nhất được chia sẻ với người học, và
  • Người học có thể chịu trách nhiệm cho việc học tập của mình và cuối cùng là tự đánh giá sự tiến bộ của chính mình.

KTĐG thường xuyên không phải là cái gì mới, thêm vào công việc của người giáo viên. Trên thực tế nó tích hợp rất rõ ràng vào công việc vốn hàng ngày có trên lớp của giáo viên.

KTĐG thường xuyên bao gồm các hoạt động chính sau:

  • Chia sẻ ý tưởng học tập;
  • Chia sẻ và thỏa thuận về các tiêu chí thành công
  • Nhận phản hồi từ học sinh;
  • Lựa chọn câu hỏi cho học sinh, và
  • Khuyến khích học sinh đánh giá việc học tập của chính mình và góp ý cho bạn học.

Một trong các tiêu chí của KTĐG vì quá trình học tập là các phản hồi thường xuyên [formative feedback] của giáo viên đối với học sinh. Phản hồi tốt sẽ có tác dụng động viên học sinh, giúp cho học sinh tạo nên sự tự trọng và có suy nghĩ tích cực. Phản hồi phải làm sao không ít, không muộn, không ``lờ mờ’’ và không mang theo cảm tính cá nhân. Giáo viên có thể dùng các phản hồi cho các sản phẩm của học sinh như ``Được rồi’’ hay `` Cần cố gắng hơn’’. Tuy nhiên những phản hồi như vậy không phải là các phản hồi thường xuyên tốt cho học sinh. Các phản hồi của giáo viên về các sản phẩm học tập của học sinh sẽ có ý nghĩa cho học sinh nếu nó đưa ra lời khuyên cho các em cần phải cải tiến điều gì. Những phản hồi được coi là tốt như vậy thường có ba thành phần sau đây:

-thứ nhất là cho học sinh biết được học sinh đang ở đâu [điều này có nghĩa là so với yêu cầu của chương trình thì học sinh đạt được đến đâu];

-xác định mục tiêu đòi hỏi cần đạt được; và

-các giải pháp để đạt được mực tiêu đó.

Để thực sự có ý nghĩa, phản hồi của giáo viên cần phải giúp cho việc sắp đặt kế hoạch cho bước tiếp theo trong quá trình học tập của học sinh.

Các phản hồi thường xuyên cần đúng lúc; liên quan đến các dự kiến học tập; xác định được khi nào thì được coi là thành công; xác định được khi nào và làm thế nào có thể cải tiến được; và cuối cùng là phản hồi qua ý hoặc lời lẽ đó học sinh có thể thực hiện được.

Một trong những phản hồi thường xuyên mà giáo viên thường sử dụng là phản hồi bằng việc viết ra. Dạng phản hồi viết ra thường được thấy ở một trong ba cách: cho điểm/xếp hạng, cho điểm/xếp hạng+nhận xét, và chỉ có nhận xét.

Các nghiên cứu cho thấy rằng học sinh sẽ tiến bộ nhiều nhất trong quá trình học tập khi mà các phản hồi của giáo viên cho các em chỉ bằng nhận xét mà không có điểm số hay xếp hạng kèm theo.

Kể cả khi có nhận xét kèm theo thì học sinh cũng thường bỏ qua các nhận xét đó bởi tâm trạng nhận được sự thành công hay thất bại đã chế ngự từ các con số hoặc chữ từ điểm số và sự xếp hạng rồi. Trên thực tế khi nhận được điểm số cùng với nhận xét điều đầu tiên mà học sinh nhìn vào là điểm số của mình và sau đó là quan tâm xem điểm của bạn bên cạnh là bao nhiêu. Trong trường hợp đó thông thường học sinh sẽ không đọc nhận xét.

Các kết luận trên đây là kết quả của hai nghiên cứu từ Israel được trích dẫn trong công trình của Black và Wiliam năm 1998 [tài liệu tham khảo trong [1]]. Đây cũng là một kết luận quan trọng trong nghiên cứu của ĐH King's College [Vương quóc Anh], và cũng được tìm thấy trong các nghiên cứu ở nhiều nước khác nhau được thống kê trong bảng dưới đây

Nhóm học sinh được đánh giá bởi

Sự tiến bộ trong học tập

Sự quan tâm đến môn học

Điểm số/Xếp hạng

Không

Có cho nhóm học tốt, Không cho nhóm TB và yếu

Điểm/Xếp hạng+Nhận xét

Không

Có cho nhóm học tốt, Không cho nhóm TB và yếu

Chỉ nhận xét

30%

Có cho tất cả các nhóm học sinh.

Từ bảng trên chúng ta thấy rằng nếu chỉ nhận xét thì có thể làm tất cả học sinh quan tâm đến môn học hơn và nâng được thêm 30% kết quả học tập của học sinh. Trong khi đó đối với các cách còn lại thì tất cả các nhóm học sinh đều không thấy có sự tiến bộ trong học tập và chỉ có tác dụng làm cho học sinh quan tâm đến môn học hơn bởi một số học sinh nhất định [nhóm học sinh học tốt môn học đó].

Kết luận từ kết quả nghiên cứu trên đây cùng thực tiễn trong một số năm học vừa qua khi thí điểm đánh giá không dùng điểm số củng cố cho chúng ta một niềm tin là việc đánh giá thường xuyên chỉ bằng nhận xét sẽ thực sự giúp cho quá trình học tập của học sinh, giúp cho học sinh tiến bộ.

Tóm lại, trong vấn đề kiểm tra đánh giá học sinh, đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì không mâu thuẫn nhau mà bổ sung, và tác động với nhau. Đánh giá thường xuyên của giáo viên qua các phản hồi chỉ bằng các nhận xét cho cho học sinh dường như mang lại sự tiến bộ nhiều hơn và sự quan tâm lớn hơn đến việc học tập của các em. Để nâng cao chất lượng học tập, giáo viên cần sử dụng một cách hợp lý, đúng mực và khéo léo các nhận xét của mình cho các sản phẩm học tập của học sinh, giúp cho học sinh biết được các em đang ở đâu so với yêu cầu, đích và cách các em cần đến trong thời gian tiếp theo. Đó chính là một trong những biện pháp quan trọng mà giáo viên có thể làm, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh.

Gửi email
In trang

Đáp án mô đun 3 bồi dưỡng thường xuyên chi tiết đầy đủ cả trắc nghiệm và tự luận chính xác 100% Hoạt động trải nghiệm

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây [4.06 MB, 38 trang ]

Đáp án Mô đun 3 bồi dưỡng thường xuyên chi tiết đầy đủ
chính xác 100%
Các thầy cơ cứ làm lần lượt theo đáp án này từ đầu đến cuối rất chi tiết đầy đủ
cả phần trắc nghiệm và phần tự luận chỉ việc copy ở đây và paste vào, tất cả gần
100 câu chỉ 40 phút là xong tất cả thôi ạ . Và kết quả điểm bài kiểm tra cuối khóa
của các thầy cơ sẽ đạt được đây ạ! Chúc các thầy cô làm bài vui vẻ !

Phần I: Phần mở đầu:
Kiểm tra đầu vào





Phần II : Các xu hướng hiện đại
Lý thuyết chung:
Đáp án Bài tập 1: tự luận

Câu hỏi tương tác
1.1
Tại sao nói: Kiểm tra, đánh giá là đầu tàu lơi kéo mọi hoạt
động khác trong giáo dục?
Gọiđánhgiálàđầutàulơikéomọihoạtđộngkháctronggiáodụcvì
đánhgiásẽkhíchlệvàlàđộnglựcchongườihọcphấnđấu.có2
loạiđánhgiálàđánhgiáthườngxunvàđánhgiáđịnhkỳđể
khíchlệvàlàmthướcđochokếtquảcủahoạtđộnggiáodục

1.2
Quan điểm hiện đại về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập,
giáo dục theo hướng ph ...
Việc tăng cường đánh giá thường xuyên trong tổ chức hoạt


động giáo dục hiện nay là theo những quan điểm đánh giá
nào? Vì sao?
Trả lời :
Việctăngcườngđánhgiáthườngxuntrongtổchứchoạtđộng
giáodụchiệnnaylàtheonhữngquanđiểmđánhgiáđểlàmnổibật
nhữngđiểmmạnhcủangườihọc.Ngườihọckhơngđượcthamgia
vàoqúatrìnhđánhgiá.Quanđiểmhiệnđạivềkiểmtra,đánhgiá
kếtquảhọctậpđểgiáodụctheohướngpháttriểnphẩmchất,năng
lựcchohọcsinhvàlàmộtqtrìnhđánhgiáliêntụckhơngngắt
qng.


1.3
Đánh giá phẩm chất, năng lực
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Sự khác biệt nhất giữa đánh giá kiến thức kĩ năng và đánh
giá năng lực là gì? Lấy ví dụ minh họa.
Xétvề bảnchấtthìkhơngcómâuthuẫngiữađánhgiánănglựcvàđánhgiá
kiếnthứckỹnăng,màđánhgiánănglựcđượccoilàbướcpháttriểncaohơn
sovớiđánhgiákiếnthức,kỹnăng.Đểchứngminhhọcsinhcónănglựcởmột
mứcđộnàođó,phảitạocơhộichohọcsinhđượcgiảiquyếtvấnđềtrongtình
huốngmangtínhthựctiễn.Khiđóhọcsinhvừaphảivậndụngnhữngkiến
thức,kỹ năngđãđượchọc ở nhàtrường,vừaphảidùngnhữngkinhnghiệm
củabảnthânthuđượctừnhữngtrảinghiệmbênngồinhàtrường
Mặtkhác,đánhgiánănglựckhơnghồntồnphảidựavàochươngtrìnhgiáo
dụcmơnhọcnhưđánhgiákiếnthức,kỹnăng,bởinănglựclàtổnghóa,kết
tinhkiếnthức,kỹnăng,tháiđộ,tìnhcảm,giátrị,chuẩnmựcđạođức,…được
hìnhthànhtừnhiềulĩnhvựchọctậpvàtừsựpháttriểntựnhiênvềmặtxãhội
củamộtconngười.



1.4
Nguyên tắc kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng
lực học sinh trung học phổ thông trong Hoạt động trải nghiệm,
hướng nghiệp
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Cần phải đảm bảo những nguyên tắc nào khi triển khai
kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng
lực
Cần phải đảm bảo 4 nguyên tắc khi triển khai kiểm tra đánh
giá theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực sau
1. Đảm bảo tính tồn diện và tính linh hoạt
Việc đánh giá năng lực hiệu quả nhất khi phản ánh được sự
hiểu biết đa chiều, tích hợp, về bản chất của các hành vi
được bộc lộ theo thời gian.
2. Đảm bảo tính phát triển
Ngun tắc này địi hỏi trong q trình kiểm tra, đánh giá,
có thể phát hiện sự tiến bộ của học sinh, chỉ ra những điều
kiện để cá nhân đạt kết quả tốt hơn về phẩm chất và năng
lực
3. Đảm bảo đánh giá trong bối cảnh thực tiễn
Để chứng minh học sinh có phẩm chất và năng lực ở mức
độ nào đó, phải tạo cơ hội để họ được giải quyết vấn đề
trong tình huống, bối cảnh mang tính thực tiễn
4. Đảm bảo phù hợp với đặc thù Hoạt động trải
nghiệm, hướng nghiệp
Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường phổ thông là
hoạt động giáo dục có tính đặc thù khác biệt so với các

mơn học, thể hiện ở mục tiêu, nội dung, phương thức và
loại hình tổ chức hoạt động do đó kiểm tra đánh giá trong
Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp cũng có đặc thù riêng.


1.5
Quy trình kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển phẩm
chất, năng lực học sinh trung học phổ thông
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Để thực hiện kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển
phẩm chất và năng lực cho người học thì cần phải tiến hành
qua những bước nào?
Quy trình đánh giá hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp gồm 7 bước:
Kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh trong HĐ
trải nghiệm hướng nghiệp được thực hiện theo quy trình bảy bước. Quy trình này được
thể hiện cụ thể trong bảng dưới đây


Câu hỏi TNKQ



2.1
HÌNH THỨC ĐÁNH GIÁ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC HỌC SINH TRUNG HỌC

2.1.1

Đánh giá thường xuyên
Trả lời tự luận

Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Tại sao cần phải tăng cường đánh giá thường xuyên?
Cần phải tăng cường đánh giá thường xuyên vì:
– Các nhiệm vụ ĐGTX được đề ra nhằm mục đích hỗ trợ,
nâng cao hoạt động rèn luyện và giáo dục. ĐGTX nhấn
mạnh đến tự đánh giá mức độ đáp ứng các tiêu chí của bài
học và phương hướng cải thiện để đáp ứng tốt hơn nữa.
– Việc nhận xét trong ĐGTX tập trung cung cấp thông tin
phản hồi chỉ ra các nội dung cần chỉnh sửa, đồng thời đưa
ra lời khuyên cho hành động tiếp theo [ngay trước mắt HS
phải làm gì... và làm bằng cách nào].
– Không so sánh HS này với HS khác, hạn chế những lời
nhận xét tiêu cực, trước sự chứng kiến của các bạn học, để
tránh làm thương tổn HS.
– Mọi HS đều có thể thành cơng, GV khơng chỉ đánh giá
trải nghiệm, kỹ năng... mà phải chú trọng đến đánh
giá các năng lực, phẩm chất [tự quản, tự học, hợp tác,
giải quyết vấn đề... tự tin, trách nhiệm, đồn kết u
thương] trên nền cảm xúc/ niềm tin tích cực... để tạo
dựng niềm tin, nuôi dưỡng hứng thú học tập/ tham gia
hoạt động giáo dục.


2.1.2
Đánh giá định kì
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Đánh giá định kì nhằm mục đích gì?
Trả lời

Mục đích chính của đánh giá định kỳ là thu thập thơng tin
từ học sinh để đánh giá thành quả rèn luyện và tham gia
các hoạt động giáo dục sau một giai đoạn hoạt động trải
nghiệm, hướng nghiệp nhất định. Dựa vào kết quả này để
xác định kết quả rèn luyện của học sinh và đưa ra kết luận
giáo dục cuối cùng.

2.2
Các phương pháp đánh giá
2.2.1
Phương pháp trắc nghiệm
Câu hỏi tương tác


1. Trả lời câu hỏi
Tại sao nói phương pháp trắc nghiệm là phương pháp có
khả năng đánh giá được năng lực đặc thù trong tổ chức
hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp?
Vìphươngpháptrắcnghiệmđượcsử dụng ở thờiđiểmđầulàm
căncứ xâydựngvàthiếtkế hoạtđộng,đánhgiátrongqtrình
hoạtđộngnhưlàmứcđộtiếnbộtrongnănglựcnhậnthứccủahọc
sinhvàsửdụngđánhgiávàocuốimỗigiaiđoạnđểđánhdấumóc
pháttriểnvềnhậnthức.
Cáccơngcụthườngsửdụngtrongphươngphápphùhợpvớikiểm
tra, đánh giá Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp là: bảng hỏi
ngắn,bảngKWLH..

2.2.2 Phương pháp quan sát
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi

Tại sao cần phải sử dụng phương pháp quan sát trong đánh
giá kết quả rèn luyện giáo dục của học sinh?
Vì phương pháp quan sát là phương pháp quan trọng trong
đánh giá kết quả hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp.
Năng lực của học sinh được thể hiện thông qua hoạt động
thực tiễn, chính vì vậy việc quan sát sự thể hiện của học
sinh trong hoạt động sẽ thu thập được những minh chứng
đáng tin cậy về năng lực của học sinh.
Phương pháp quan sát là quá trình tổ chức hoạt động cho
đối tượng được quan sát bộc lộ những hành vi thái độ theo
mục đích đánh giá và người quan sát ghi chép lại những
biểu hiện dó theo cấu trúc nội dung quan sát được thể hiện
trong phiếu quan sát.
Công cụ thường dùng trong quan sát là bảng kiểm, bảng
ghi chép…. Để khơng bỏ sót các chi tiết cần quan sát, người


quan sát phải liệt kế tất cả những nội dung cần tìm hiểu,
mơ tả chung theo các mức độ khác nhau.

2.2.3

Phương pháp khảo sát phản hồi của học sinh

Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Phươngphápkhảosátphảnhồicủahọcsinhcóvaitrịnhưthế
nàođốivớiqtrìnhtổchứchoạtđộngtrảinghiệm,hướngnghiệp?
Đây là phương pháp được sử dụng phổ biến khi cần lấy thông tin phản hồi từ đối tượng
khảo sát vưới mục đích nhất định, nó có vai trị rất quan trọng. Khảo sát phản hồi đo

mức độ nhận thức của học sinh về nội dung khảo sát hoặc cũng có thể phân loại học
sinh trong các nhóm hoạt động. Cơng cụ của phương pháp này chủ yếu là bảng hỏi. Các
câu hỏi trong bảng hỏi được thiết kế theo kĩ thuật thiết kế câu hỏi trắc nghiệm khách
quan.

2.2.4


Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Tại sao nói phương pháp đánh giá phân tích sản phẩm của
học sinh là phương pháp đánh giá khả năng vận dụng kiến
thức, kĩ năng đã học vào bối cảnh có ý nghĩa?
Vì sản phẩm là minh chứng rõ ràng nhất về năng lực của cá
nhân hặc nhóm học sinh, vì vậy đánh giá năng lực cần dựa
tên sản phẩm của học sinh tạo ra. Sản phẩm được tạo ra
trong hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp thường đã chứa
đựng trong đó những chỉ báo của những năng lực cần được
đánh giá.
Phương pháp đánh giá phân tích sản phẩm của học sinh là
phương pháp đánh giá kết quả tham gia các hoạt động trải
nghiệm hướng nghiệp của học sinh khi những kết qủa ấy
được thể hiện bằng cách sản phẩm như bức vẽ, video,
poster, album ảnh, đồ vật, sáng tác, chế tạo, lắp ráp, bài
trình bày, dự án nhỏ… Như vậy, sản phẩm là các sản phẩm
hoàn chỉnh, được học sinh thể hiện qua việc xây dựng, sáng
tạo, thể hiện ở việc hoàn thành được cơng việc một cách có
hiệu quả. Các tiêu chí và tiêu chuẩn để đánh giá sản phẩm
là rất đa dạng. Đánh giá sản phẩm được dựa trên ngữ cảnh
cụ thể của hiện thực, cần đánh giá cả quá trình xây dựng

và tạo sản phẩm học tập.

2.2.5
Phương pháp đánh giá hồ sơ tham gia hoạt động trải
nghiệm của học sinh
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi


Tại sao nói phương pháp đánh giá hồ sơ tham gia hoạt động trải nghiệm
của học sinh thể hiện rõ quan điểm đánh giá vì sự tiến bộ của ngừoi học
[assessment for learning]?
Vì đánh giá qua hồ sơ là sự theo dõi, trao đổi những ghi
chép, lưu giữ của chính học sinh về những gì các em đã nói,
đã làm, cũng như ý thức, thái độ của học sinh với quá trình
tham gia hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp của mình
cũng như với mọi người… Qua đó giúp học sinh thấy được
những tiến bộ của mình, và giáo viên thấy được khả năng
của từng học sinh, từ đó giáo viên sẽ có những điều chỉnh
cho phù hợp hoạt động tổ chức các hoạt động giáo dục.

2.2.6
Phương pháp hội ý giữa các bên có liên quan
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Phân tích và làm rõ ưu điểm về tính tồn diện của thơng tin
đánh giá thơng qua phương pháp hội ý giữa các bên có liên
quan?
Ưu điểm của phương pháp này là nó đảm bảo tối đa tính
tồn diện trong đánh giá. Các phẩm chất và năng lực đặc

thù của Hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp không chỉ
biểu hiện trong quá trình học sinh tham gia trải nghiệm ở
trường, trong thời gian tổ chức hoạt động mà còn thể hiện ở
nhà, ngoài xã hội sau thời gian tổ chức hoạt động do đó cần
có sự đánh giá, hội ý thống nhất của tất cả các bên gia
đình, nhà trường, xã hội trong việc đánh giá học sinh.


Phần III: Câu hỏi TNKQ



XÂY DỰNG CÔNG CỤ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ GIÁO
DỤC VÀ SỰ TIẾN BỘ CỦA HỌC SINH
Xây dựng công cụ kiểm tra và đánh giá
3.1.1
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Các phương pháp đánh giá theo hướng phát triển phẩm
chất, năng lực học sinh THPT trong hoạt động trải nghiệm,
hướng nghiệp được thực hiện tương ứng với các cơng cụ
đánh giá như thế nào?
Các tiêu chí đánh giá của rubric là những đặc điểm, tính
chất, dấu hiệu đặc trưng của hoạt động hay sản phẩm được
sử dụng làm căn cứ để nhận biết, xác định, so sánh, đánh
giá hoạt động hay sản phẩm đó.
Các tiêu chí đánh giá cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Thể hiện đúng trọng tâm những khía cạnh quan trọng của
hoạt động/sản phẩm cần đánh giá.
- Mỗi tiêu chí phải đảm bảo tính riêng biệt, đặc trưng cho

một dấu hiệu nào đó của hoạt động/sản phẩm cần đánh giá
- Tiêu chí đưa ra phải quan sát và đánh giá được


3.1.2
Định hướng sử dụng các công cụ đánh giá cho các loại hình Hoạt động trải nghiệm,
hướng nghiệp
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Phân tích việc sử dụng các công cụ đánh giá theo hướng phát triển năng lực, phẩm chất học sinh
THPT và minh hoạ căn cứ theo đặc điểm của các loại hình tổ chức hoạt động trải nghiệm, hướng
nghiệp?

Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp loại hình Sinh hoạt dưới cờ thường được triển khai
dưới phương thức thể nghiệm, tương tác như: diễn đàn, đóng kịch, hội thảo, hội thi, trị
chơi, giao lưu với quy mơ lớn, nội dung các hoạt động vẫn có thể có sự đóng góp của
các “sản phẩm” hoạt động của học sinh, các hoạt động tập thể nên phương pháp quan
sát Quan sát biểu hiện hành vi và thái độ của học sinh trong hoạt động, Khảo sát phản
hồi của học sinh, Phân tích “sản phẩm” của học sinh được cho là phù hợp với loại hình
sinh hoạt dưới cờ. Chủ thể đánh giá là giáo viên tổng phụ trách, giáo viên chủ nhiệm,
khách mời, học sinh… phụ thuộc vào tính chất của từng phương thức tổ chức.

XÂY DỰNG KẾ HOẠCH ĐÁNH GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG TRẢI
NGHIỆM, HƯỚNG NGHIỆP THEO HƯỚNG
3.2.1
Phân tích yêu cầu cần đạt trong Hoạt động trải nghiệm,
hướng nghiệp, xác định


3.2.2

Lập kế hoạch đánh giá trong Hoạt động trải nghiệm, hướng
nghiệp theo hướng phát
3.2.3
Phân tích ví dụ minh hoạ về kiểm tra, đánh giá một hoạt
động trải nghiệm hướng n
Câu hỏi TNKQ



IV. SỬ DỤNG VÀ PHÂN TÍCH KẾT QUẢ ĐÁNH GIÁ THEO
ĐƯỜNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỂ GHI NHẬN
Khái quát về đường phát triển năng lực
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Việc xác định đường phát triển năng lực có ý nghĩa như thế
nào trong đánh giá phẩm chất, năng lực học sinh theo tinh
thần của Chương trình giáo dục phổ thông 2018?
Đường phát triển năng lực là sự mô tả các mức độ phát
triển khác nhau của mỗi năng lực mà học sinh cần hoặc đã
đạt được Đường phát triển năng lực khơng có sẵn, mà giáo
viên cần phải phác họa khi thực hiện đánh giá năng lực học
sinh. Đường phát triển năng lực được xem xét dưới hai góc
độ:
- Đường phát triển năng lực là tham chiếu để đánh giá sự
phát triển năng lực cá nhân học sinh. Trong trường hợp này,
giáo viên sử dụng đường phát triển năng lực như một quy
chuẩn để đánh giá sự phát triển năng lực học sinh. Với
đường phát triển năng lực này, giáo viên cần căn cứ vào
các thành tố của mỗi năng lực [chung hoặc đặc thù] trong
chương trình giáo dục phổ thơng 2018 để phác họa nó với

sự mơ tả là mũi tên hai chiều với hàm ý, tùy vào đối tượng
nhận thức mà sự phát triển năng lực có thể bổ sung ở cả
hai phía.
- Đường phát triển năng lực là kết quả phát triển năng lực
của mỗi cá nhân học sinh. Căn cứ vào đường phát triển


năng lực [là tham chiếu], giáo viên xác định đường phát
triển năng lực cho mỗi cá nhân học sinh để từ đó khẳng
định vị trí của học sinh đang ở đâu trong đường phát triển
năng lực đó.

4.1.2
Xác định đường phát triển năng lực chung
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Hãy làm rõ sự khác biệt giữa đánh giá kết quả giáo dục
trong Hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp theo Chương
trình Giáo dục phổ thơng 2018 với Hoạt động giáo dục
ngồi giờ lên lớp trong Chương trình hiện hành?
Để xác định đường phát triển năng lực chung, giáo viên
cần căn cứ vào mỗi thành tố của từng năng lực và yêu cầu
cần đạt của mỗi thành tố năng lực trong chương trình giáo
dục phổ thơng 2018 để phác hoạ nó. Sau đó, giáo viên cần
thiết lập các mức độ đạt được của năng lực với những tiêu
chí cụ thể để thu thập minh chứng xác định điểm đạt được
của học sinh trong đường phát triển năng lực để ghi nhận
và có những tác động điều chỉnh hoặc thúc đẩy.
Ví dụ, giải quyết vấn đề là một trong những năng lực chung
cần hình thành cho học sinh theo yêu cầu cần đạt của

chương trình giáo dục phổ thơng 2018. Để xác định đường
phát triển năng lực giải quyết vấn đề, giáo viên cần thiết
lập các mức độ với những tiêu chí cụ thể để căn cứ vào đó
thu thập các minh chứng về năng lực giải quyết vấn đề
theo các mức độ của học sinh.


4.1.3
Xác định đường phát triển năng lực đặc thù Hoạt động trải
nghiệm, hướng nghiệp
Câu hỏi tương tác
1. Trả lời câu hỏi
Lựa chọn một năng lực đặc thù trong một chủ đề hoạt động
trải nghiệm, hướng nghiệp ở trường THPT và xác định
đường phát triển năng lực của năng lực này ở học sinh.
Mỗi một chỉ báo được đo ở 5 mức độ khác nhau, tương ứng
với các mức độ đạt được về hành vi tạo nên đường phát
triển năng lực của từng chỉ báo. Ví dụ Đường phát triển kĩ
năng làm chủ cảm xúc của bản thân trong các tình huống
giao tiếp khác nhau ứng với 5 mức sẽ có 5 biểu hiện cụ thể
về hành vi. Theo dó. Học sinh A năm lớp 10 đạt mức 3
tương đương với biểu hiện hành vi là Kiềm chế được cảm
xúc của bản thân, năm lớp 12 đạt mức 5 tương đương với
biểu hiện hành vi là Thay đổi cảm xúc một cách tích cực
cho phù hợp với tình huống giao tiếp


Video liên quan

Bài Viết Liên Quan

Chủ Đề