Dưới thời lê sơ, việc định lại chính sách chia ruộng đất công làng xã gọi là


Chính sách ruộng đất thời Lê sơ 1428-1527 Vũ Thị Khánh Linh
Để thống nhất việc phân chia ruộng công trong phạm vi cả nước các vị vua nhà Lê sơ đã đặt ra phép quân điền. Năm 1424 sau khi lên ngôi vua, Lê
Thái Tổ ban hành chế độ quân điền. Có thể nói trong lịch sử Việt Nam, ít nhất cũng là lịch sử thành văn thì đây là lần đầu tiên thi hành chế độ quân điền.
Đến thời Lê Thánh Tông chế độ quân điền mới được quy định cụ thể. Theo chế độ qn điền thì các ruộng đất của cơng làng xã đem phân cấp cho mọi
người trong thôn xã, cứ 6 năm thì ruộng cơng lại đem qn cấp một lần, đến kì hạn thì quân cấp lại. Tất cả mọi người trong xã đều được quân cấp từ quan
viên cho đến vợ con bọn phạm nhân đều được quân cấp ruộng đất, tuỳ theo thứ bậc mà cấp, quan viên thì được nhiều, các hạng dưới thì khẩu phần ruộng
sẽ ít hơn. Vấn đề đặt ra là: tại sao các vua thòi Lê sơ lại định ra chế độ quân điền? Trong lời dụ về phép quân điền Lê Thái Tổ có nói: kẻ chơi bời nhớn
nhác thì chiếm nhiều ruộng đất, còn người lính chiến đấu vì đất nước thì một tấc, một thước cũng khơng có, giàu nghèo không công bằng Như chúng ta
đã biết cuộc kháng chiến chống quân Minh sở dĩ đi đến thắng lợi vẻ vang, chủ yếu là do những hi sinh to lớn của tầng lớp nô tỳ và nông dân tự do, hai tầng
lớp lao động đông đảo nhất trong xã hội. Khi cầm vũ khí họ đứng lên theo nghĩa quân Lam Sơn, nô tỳ đã tự thủ tiêu chế độ đại điền trang và chế độ nô
tỳ. Trong kháng chiến chống quân Minh và ngay sau khi cuộc kháng chiến giành được thắng lợi rất có thể nô tỳ và nông dân ở các địa phương đã chủ
động đứng lên giành lấy ruộng đất của quý tộc, nhất là của quý tộc đầu hàng Minh để cày cấy. Nhà Lê sơ vẫn thưà nhận thực tế ấy cho đến năm 1429, Lê
Thái Tổ đã cải biến tình hình ấy thành một chế độ mới gọi là chế độ quân điền.

2.2.1 Chính sách quân điền dưới thời Lê Thái Tổ


Khi ban hành chính sách quân điền, Lê Thái Tổ có chủ ý dành nhiều ruộng nhiều ruộng cho quân lính là những người đã hi sinh nhiều trong cuộc
đấu tranh đánh đuổi quân Minh đưa nhà Lê lên ngơi báu năm 1429 sở dĩ được
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ 1428-1527 Vũ Thị Khánh Linh
đưa ra chủ yếu là do yêu cầu về ruộng đất của nô tỳ và nông dân bằng cách ban hành chế độ quân điền. Phải nói rằng, Lê Thái Tổ là nhà kinh bang tế
thế sáng suốt, ơng đã nhìn thấy u cầu bức thiết của xã hội, và ông đã đề ra biện pháp giải quyết nhằm thoả mãn yêu cầu chính đáng ấy. Trong điều kiện
của xã hội Việt nam hồi thế kỉ XV khi chế độ đại điền trang đã tan rã trên thực tế, chế độ quân điền có lợi cho sản xuất của xã hội. Tác dụng tích cực
của chế độ quân điền là làm cho nhân dân tích cực sản xuất để khôi phục kinh tế sau 20 năm chiến tranh xâm lược đã tàm phá đất nước. Chế độ qn điền có
tác động tích cực trong việc thúc đẩy nền kinh tế nông nghiệp Việt nam ở thế kỉ này phát triển, khi nền kinh tế đại điền trang của thời trước khơng còn nữa.
Với chế độ qn điền, tầng lớp nô tỳ đã biến thành tiểu nông, họ có một số ruộng đất tối thiểu để tự ý cày cấy và hưởng toàn bộ hoa lợi sau khi đã nộp đủ
tô cho nhà nứơc. Chế độ quân điền đã thực tế thay thế chế độ đại điền trang và được nhân dân hoan nghênh. Đó là một bước tiến của xã hội trong điều
kiện chế độ đại điền trang đã cản trở sự phát triển của sức sản xuất.

2.2.2 Chính sách quân điền dưới thời Lê Thánh Tơng


Chính sách qn điền của thời Lê sơ phải đến thời Lê Tánh Tơng mới thực sự hồn thành các quy chế về quân điền. Năm 1477 cùng với chế độ lộc
điền, Lê Thánh Tông đã sai các triều thần bàn định và ban bố chế độ quân điền. Quy chế quân điền thời Hồng Đức được xem là mẫu mực cho cách thức
quân điền trong thời nhà Lê. Các triều đại phong kiến vào cuối thời nhà Lê sau này cũng dựa vào quy chế Hồng Đức, châm chước thay đổi ít nhiều để thi
hành. Nội dung của chế độ quân điền thời Lê sơ được thể hiện qua quy định năm 1481 còn chép trong Dư hạ tập. Cụ thể như sau:
Nói chung,tất cả mọi người trong xã từ quan viên đến các hạng cô quả, tàn tậi vợ con những phạm nhân đều được chia ruộng đất công làng xã. Phạm
vi chia tuy rộng rãi như vậy nhưng mức độ chia lại rất chênh lệch tuỳ theo phẩm tước và thứ hạng xã hội. Mỗi lần chia ruộng đất, quan phủ huyện phải
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ 1428-1527 Vũ Thị Khánh Linh
đo đạc lại ruộng đất thống kê dân số trong xã sắp xếp thành từng hạng, mỗi hạng như vậy có phần ruộng bằng nhau, nhưng trên thực tế vẫn có sự chênh
lệch. Chẳng hạn như quan viên tam phẩm được 11 phần, xuống đến dân thuộc loại cố hạng làm thuê chỉ còn 3 2
1 và đến hạng tàn tật, quả phụ, cô nhi chỉ còn 3 phần.
Ruộng quan viên từ tứ phẩm trở lên đã được cấp lộc điền của nhà nước rồi thì theo ngun tắc khơng cấp thêm ruộng đất cơng của xã. Quan viên hào
lý trong xã không những được nhiều phần ruộng đất, mà còn dung uy quyền chiếm giữ những loại ruộng đất tươi tồt nhất, màu mở nhất.
Ruộng đất công của xã nào chỉ chia cho xã ấy nhưng đầu thời Lê sơ do hậu quả của cuộc thống trị tàn bạo của nhà Minh có nhiều xã dân cư phiêu
tán, đồng ruộng bị bỏ hoang nhiều nên nhà nước qui định những xã nào dân ít, ruộng cơng nhiều thì có thể chia bớt cho xã bên cạnh thiếu ruộng.
Thời gian quân cấp là 6 năm 1 lần, mỗi lần đến kì cấp quân quan phủ huyện phải xuống khám đạt lại ruộng đát và định việc phân cấp. Việc đo đạc
và phân cấp phải tiến hành váo lúc đồng áng thong thả hay vào lúc nơng nhàn và đảm bảo hồn thành trước vụ cày cấy để không gây trở ngại đến sản xuất
nông nghiệp. Pháp luật thời bấy giờ qui định ruộng vụ mùa thu điền thì đo vào mùa xuân, chia vào mùa thu; ruộng vụ chiêm hạ điền thì đo vào mùa
thu năm nay và phải chia vào mùa xuân năm sau
8
Đến kì hạn 6 năm mọi người phải trả lại ruộng khẩu phần cũ để phân phố lại, người nào chiếm quá hạn đều bị trừng phạt nặng
9
. Nhưng trong kì hạn 6 năm nếu có trường hợp quan viên thăng hay giáng, những dân chết hay hết
tang hoặc chưa đến tuổi được chia thì xã trưởng có quyền lấy bớt hay tạm cấp thêm ruộng đất.
8
Điều 346 trong Lê triều hình luật
9
Điều 342 qui định: ngưòi nào chiếm quá hạn 1 mẫu bị 80 trượng, 10 mẫu bị biến một tư và bồi thường hoa lợi cho nhà nước
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ 1428-1527 Vũ Thị Khánh Linh
Nói chung, những người cày ruộng khẩu phần đều phải nộp tô cho nhà nước. Riêng quan viên từ tứ phẩm trở lên nếu được cấp them ruộng cơng ở xã
thì phần ruộng cấp thêm này khơng phải nộp tơ. Vì vậy trên thực tế phần ruộng cấp thêm ấy có tính chất như lộc điền và có thể coi thêm như phần bổ
sung của lộc điền. Đất làm vườn thì quan viên được trừ 80 thứơc, quân dân được trừ 50 thước, người tàn tật cơ quả thì được trừ 25 thước, còn ngồi ra
đều phải trưng tơ như thường dân. Nhưng mức độ ruộng khẩu phần này nhẹ hơn so với mức tô các loại ruộng khác, nên cày loại ruộng này bị nộp tô vẫn
là một quyền lợi, thực tế người nông dân nhận ruộng cày cấy trở thành tá điền cho nhà nước. Còn tầng lớp quan viên, địa chủ nhận ruộng thường không phải
để tự cày cấy mà là phát canh lại cho nông dân để thu tô nhiều hơn mức tô của nhà nước quy định. Những người này thực tế đã trở thành một tầng lớp
bóc lột đứng trung gian thu tô của nông dân rồi nạp một phần cho nhà nứơc , phần còn lại thì chiếm giữ lấy.
Có thể nói, chính sách qn điền thời Hồng Đức đã thể hiện ý đồ thống nhất cách chia ruộng và định kỳ chia ruộng công làng xã của nhà Lê sơ. Đó là
sự phủ định quyền chi phối theo tục lệ của làng xã đối với ruộng đất công, mặc nhà nước vẫn công nhận và duy trì ngun tắc ruộng cơng làng nào vẫn
chia cho dân làng ấy cày cấy . Không những thế trong khi thống nhất thể lệ chia ruộng, nhà nước trung ương còn ràng buộc làng xã phải tuân theo những
quy định về phân loại và hưởng thụ của mình. Theo những quy định này, các quan lại chức sắc, binh sĩ của nhà nước được xếp lên trên và được ưu ái rõ rệt,
được thể hiện qua việc họ được ban cấp ruộng lộc, nếu không được cấp đủ số ruộng này họ được cấp thêm ruộng khẩu phần.
Ruộng đất công làng xã vẫn thuộc quyền sở hữu tối cao của nhà nước trung ương do đó loại ruộng đất này không được đem ra mua bán hay chuyển
nhượng. Ngồi nhà vua ra, khơng ai, khơng một thế lực nào được quyền dùng một phần đất công để ban cấp hay làm một việc gì. Nếu vi phạm những
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ 1428-1527 Vũ Thị Khánh Linh
nguyên tắc đó đều phải chiụ phạt, nhưng trên thực tế, hệ thống chính quyền từ vua cho đến người nông dân là cả một bộ máy đồ sộ, với hang loạt các tầng
cấp thứ bậc chức sắc của các hạng quan viên, tương ứng với nó là hệ thộng ruộng đất được phân chia phù hợp, bởi vậy chính sách ruộng đất của nhà Lê
sơ dù có quy mơ triệt để đến đâu, thì cũng khơng tránh khỏi sự sai lạc trong q trình thực hiện. Thậm chí, còn khơng tơn trọng cả các ngun tắc về
chính sách ruộng đất, trong đó có chính sách về ruộng đất cơng làng xã và chính sách quân điền. Một lần nữa, nhà Lê sơ lại gián tiếp góp phần mở rộng
giai cấp địa chủ phong kiến. Chính sách quân điền đã thể hiện rõ tính giai cấp của nhà nước trung ương ở nửa sau thế kỉ XV. Nó là biện phấp khẳng định
quyền sở hữu trực tiếp của nhà vua đối với ruộng đất cơng làng xã. Chính sách qn điền ít nhiều đưa lại ruộng đất cho mọi tầng lớp nhân dân, trừ
những làng xã khơng có ruộng cơng các xã tư điền, tạo điều kiện làm ăn sinh sống cho tất cả mọi người, giải quyết yêu cầu ruộng đất của nơng dân
nghèo. Bên cạnh đó, chính sách qn điền thời Lê sơ còn khắc sâu thêm sự phân hố xã hội ngày càng sâu sắc, sự phân biệt đẳng cấp trong những người
được chia. Đồng thời, góp phần củng cố quyền sở hữu của nhà nước về ruộng đất công làng xã, trói buộc người nơng dân ngày càng gắn chặt với nơng thơn,
trong khi đó chính nền kinh tế tiêủ nông lại tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của sản xuất hàng hoá. Phải chăng đây cũng chính là ngun nhân dẫn
đến tình trạng chính sách qn điền nhanh chóng mất hết tác dụng tích cực, và ngày càng trở thành ghánh nặng của nhân dân.
3. Sự phát triển của chế độ tư hữu ruộng đất 3.1. Những chính sách ruộng đất của nhà Lê sơ đối với ruộng đất tư
hữu
Bên cạnh ruộng công, ruộng tư thời Lê sơ cũng đã phát triển, một số là của địa chủ quan liêu và đại bộ phận là của địa chủ bình dân. Ruộng tư khơng
phải nộp tơ cho nhà nước, nhà nước thừa nhận nhưng không khuyến khích
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ 1428-1527 Vũ Thị Khánh Linh
loại ruộng này. Bộ luật nhà Lê, nhất là chương Điền sản đã nói đến các thủ tục làm văn tự khế ước trong vấn đề chuyển nhượng, tranh chấp, kiện tụng
hoặc kế thừa về ruộng đất. Sự phát triển của ruộng tư thời Lê sơ phản ánh xu thế phát triển khách
quan về ruộng đất trong lịch sử Việ nam, xác lập quan hệ sản xuất phong kiến phổ biến địa chủ - tá điền trong xã hội. Tuy nhiên, đây là một q trình tư hữu
hóa khơng tự nhiên, khơng được nhà nước khuyến khích, nên đã dẫn đến những tệ nạn như chiếm công vi tư, chấp chiếm ruộng đấtdẫn đi tới tình
trạng khủng hoảng ruộng đất. Ruộng đất tư hữu: phát triển từ những thế kỉ trứơc, đến thế kỉ XV, có
điều kiện ngày càng mở rộng. Trong bộ phận này có ba loại:
Ruộng của nơng dân tư hữu
Ruộng của địa chủ
Một số ít điền trang Sự gia tăng của hàng ngũ quan lại góp phần làm cho bộ phận ruộng tư hữu
của địa chủ ngày càng phát triển, trong lúc đó các điền trang ngày càng thu hẹp lại. Theo đà phát triển chung, ruộng đất tư hữu của giai cấp địa chủ ngày
càng lấn át ruộng đất cơng. Giai cấp địa chủ nhân đó lũng đoạn quyền hành ở làng xã, ra sức bóc lọt đối với nông dân, những người trực tiếp tham gia sản
xuất. Còn chế độ sở hữu ruộng đất cơng của nơng dân tiểu tư hữu chỉ có tính chất nhỏ bé của những người nông dân lao động.
3.1.1. Về mua bán ruộng đất Việc mua bán ruộng đât có hai hình thức cơ bản là bán đợ và bán đứt
a. Bán đợ hay bán điển là một hình thức cầm ruộng có điều kiện, trong khoảng thời gian 30 năm đối với người than thuộc trong họ và 20 năm
đối với người nước ngồi, người bán có quyền đem đủ số tiền bán chuộc lại ruộng. Trong thời gian ấy, mà người bán khơng chuộc lại thì chủ mua có
quyền sở hữu như là mua đứt.
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ 1428-1527 Vũ Thị Khánh Linh
b.
Bán đứt hay bán đoạn là bán vĩnh viễn, nhường hẳn quyền sở hữu ruộng đất cho người mua, người bấn khơng có quyền đối với thửa ruộng ấy
nữa
10
. Trong xã hội có giai cấp đối kháng, việc mua bán ruộn đát ấy là mối
manh của biết bao nhiêu việc tranh chấp kiện cáo, là những thủ đoạn của những người giàu có, thế lực ức hiếp dân nghèo. Khế ước mua bán cầm cố
cũng được pháp luật quy định chặt chẽ, được hệ thống lại như sau: - Ruộng đất công làng xã, ruộng đất hương hoả của các dòng họ thuộc
loại khơng được mua bán, những người vi phạm quy định sẽ bị xử phạt rất nặng đánh 80 trượng, đồ làm khao đinh hay sung làm quân bản phủ.
- Ruộng đất đã bán đoạn tức là bán hẳn thì khơng được quyền đòi chuộc trừ trường hợp là ruộng đát hương hoả
-Nếu làm giấy tờ giả mạo để bán ruộng đát hương hoả thì bị xử theo tội bất hiếu, người ngồi mua thì cho chuộc, người than trong họ mua thì mất
tiền. Người bán bị phạt 100 trượng. - Con cái bán trộm ruộng đất của cha mẹ thì bị xử phạt 50 trượng, biếm
2 tư. Chồng chết con cái còn nhỏ, mà vợ bán của cải, ruọng đất thì bị phạt 50 roi, truy tiền trả lại người mua
- Ruộng đất bán đợ thì cho chuộc,. Nhưng nếu chủ bán xin chuộc mà không cho chuộc hoặc không xin chuộc mà cưỡng bức phải chuộc đều bị phạt
80 trượng. Nếu đẻ quá niên hạn 30 năm đối với người trong họ, 20 năm đối với người ngồi họ thì khơng được chuộc nữa. Hàng năm có một thời gian
chuộc ruộng đát nhất định ruộng mùa lấy ngày 153 làm mốc cuối, ruộng chiêm lấy ngày 159 không đúng hạn thì khơng được chuộc
11
Như vậy đến thế kỷ XV việc mua bán ruộng đất ngày càng phát triển, nhà Lê sơ đã theo luật của các triều đại trước khẳng lại lệ giữ đất và hạn
chuộc ruuộng. Điều đó có nghĩa là bằng cánh chiếm giữ lâu năm, giai cấp địa
10
Xem chương điền sản và tăng bố điền sản trong Lê triều hình luật
11
Trương Hữu Quýnh, Chế độ ruộng đất Việt nam từ thế kỉ XI _ XVII, NxbCTQG, Hà Nội 2004, tr 236,237
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ 1428-1527 Vũ Thị Khánh Linh
chủ có thể mua ruộng đất của nơng dân nghèo với một giá rẻ mạt theo chế độ bán đợ.
3.1.2 Về ruộng đất bán lại cho con cháu Chế đọ kế thừa ruộng đất nhất là kế thừa hương hoả từ thời lê sơ cũng
đựoc quy định rất chặt chẽ. Trong thời Thiệu Hoà 1443 1454 Nhân Tông ban bố 14 điều luật về tư hữu ruộng đất thì trong đó có 8 điều dành cho việc
kế thừa ruộng đất, theo Phan Huy Chú thì: từ đó về sau các vụ tranh kiện về phân chia tài sản trong dân giân mới có tiêu chuẩn. Trong luật Hồng Đức
còn dành riêng 13 điều quy định việc kế thừa hương hoả. Theo những điều luật ban hành gồm những điểm lớn sau đây:
- Theo điều lệ chung, khi cha mẹ chết phải trích ra 120 tài sản ruộng đất để làm ruộng hương hoả, phần ruộng này được giao cho người con trai cả
trông coi, cày cấy để lấy hoa lợi chi tiêu vào ngày giỗ tết. Trường hợp cha mẹ chết không kịp viết trúc thư các con cũng phải làm đúng theo lệ này. Nếu cha
mẹ là trưởng tộc thì ruộng hương hoả được gộp vào của chủngồi mới được trích ra 120để làm ruộng hương hoả. Trong trường hợp ruộng ít, anh em
đơng thì nhà nước châm chước cho anh em được thoả thuận với nhau mà để ruộng hương hoả. Nếu không còn con trai cả thì phần ruộng hương hoả được
giao cho người con gái trưởng Điều 390. Trường hợp con trai cả chết mà khơng có cháu trai thì phần ruộng hương hoả cũng giao cho người con gái kế
tiếp. Tuy nhiên khi người con gái này chết thì ruộng hương hoả lại giao cho người con gái đầu của người con trai trưởng đã chết Điều 396.
Điều đáng chú ý là người con trai cả hư hỏng hay bị phế tật, cha mẹ có thể giao phần ruộng hương hoả cho người con trai thứ, nhằm mục đích làm
sang tỏ sự bất tuyệt của dòng dõi Điều 391,392. Trường hợp con trai trưởng và cháu trai trưởngphiêu cư nơi khác, lâu ngày bỏ việc thờ cúng thì họ
hàng cáo với quan ty, gioa ruộng hương hảo cho người trong họ trơng nom, chờ khi những người trong đó trở về thì trả lại.
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ 1428-1527 Vũ Thị Khánh Linh
Sau 5 đời thờ cúng, theo quy định là đã Hết phục, hết tình số ruộng này được chuyển thành ruộng tế, người trong họ không được chia nhau thừa
hưởng
12
. Nhà nước thừa nhận sự tồn tại của tục lên chia tài sản, việc phân chia
đó khơng phân biệt con trai, con gái; đối với con của vợ lẽ, con ni thì phân chia khơng được q chênh lệch. Trên thực tế chính sách của nhà nứơc đặt ra
đối với các loại ruộng đất này chỉ là việc luật pháp hố các tục lệ của nhân dân.
Như vậy có thể thấy rằng, nh à Lê s ơ tuy không được hưởng hoa lợi từ các loại ruộng đất tư này, song điều đó khơng có nghĩa là các vị vua nhà lê sơ
khơng quan tâm đến tình trạng ruộng đất tư, mà ngược lại nhà nước đã đưa ra những luật lệ quy định cách rõ ràngo về việc mua bán ruộng đất, về ruộng
hương hoả cùng với các cách phân chia. Từ đó có thể thấy rằng, nhà nước Lê sơ đang cố gắng đi sâu hơn nữa vào đời sống cụ thể của nông dân, đồng thời
ngày càng mở rộng phạm vi ảnh hưởng của mình đói với làng xã.
3.1.3. Về ruộng đất của vợ và chồng Với những quy định về loại ruộng đất này, một lần nữa nhà Lê sơ
khẳng định quyền thế bao trùm của mình. Đó là loại ruộng đất của vợ, của chồng và thuộc sở hữu của họ, như trong chính sách ban cấp ruộng đất cơng
làng xã như gia đình nào đã có đủ ruộng đất cày cấy thì khơng được ban cấp nữa. Trong trường hợp vợ hay chồng chết trước thì ruộng đất riêng của người
đó đựoc phân chia mà không được biết thành ruộng đất riêng. Nếu người chồng hoặc ngưòi vợ đi bước nữa thì họ sẽ mất quyên được chia ruộng đất đó,
và phải trả lại ruộng đất đó cho gia đình chồng hoặc vợ.
12
Sđd, tr238
Chính sách ruộng đất thời Lê sơ 1428-1527 Vũ Thị Khánh Linh
Trường hợp vợ chồng tuyệt tự thì tồn bộ ruộng đất của gia đình được chia làm 2 phần: một phần cho họ nội để lo việc tế tự, phần còn lại cho họ
ngoại để phụng sự gia đường. Trường hợp chồng chết con còn nhỏ, vợ cải giá và bán ruộng đất của
cải thì bị phạt 50 roi truy tiền trả lại cho chủ. ruộng đất trả cho con cái.
13
Tóm lại tồn bộ điều luật nói trên về vấn đề ruộng đất thể hiện rõ sự phát triển của tư tưởng pháp lý của nhà Lê, đồng thời cũng phản ánh sự phát
triển của chế đọ tư nhân về ruộng đất.

3.2 Về ruộng đất địa chủ


Video liên quan

Chủ Đề